<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Trannhantong.net Tin yêu con người và sự sống</title>
	<atom:link href="http://trannhantong.net/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://trannhantong.net</link>
	<description></description>
	<lastBuildDate>Wed, 20 Mar 2013 15:40:48 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.4.1</generator>
		<item>
		<title>Thông báo</title>
		<link>http://trannhantong.net/2013/03/thong-bao-20-3/</link>
		<comments>http://trannhantong.net/2013/03/thong-bao-20-3/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 20 Mar 2013 14:38:48 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Featured]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://trannhantong.net/?p=1037</guid>
		<description><![CDATA[Thông báo &#160; Trần Nhân Tông Academy xin trân trọng thông báo : Các thông tin về hoạt động của Tran Nhan Tong Academy được thông tin chính thức trên website TranNhanTong.net . Trần Nhân Tông  Academy  chỉ bảo đảm xác thực  các thông tin về hoạt động của mình đã được thông tin chính thức trên website TranNhanTong.net . Cám ơn quý vị và các bạn đã quan tâm. Trân trọng. &#160; Trần Nhân Tông Academy . &#160;]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Thông báo</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Trần Nhân Tông Academy xin trân trọng thông báo :</p>
<p>Các thông tin về hoạt động của Tran Nhan Tong Academy được thông tin chính thức trên website <span style="text-decoration: underline;"><a href="http://trannhantong.net/">TranNhanTong.net</a></span> . Trần Nhân Tông  Academy  chỉ bảo đảm xác thực  các thông tin về hoạt động của mình đã được thông tin chính thức trên website <span style="text-decoration: underline;"><a href="http://trannhantong.net/">TranNhanTong.net</a></span> .</p>
<p>Cám ơn quý vị và các bạn đã quan tâm.</p>
<p>Trân trọng.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Trần Nhân Tông Academy .</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://trannhantong.net/2013/03/thong-bao-20-3/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>VĂN THƯ NGOẠI GIAO TRẦN NHÂN TÔNG</title>
		<link>http://trannhantong.net/2013/03/van-thu-ngoai-giao-tran-nhan-tong/</link>
		<comments>http://trannhantong.net/2013/03/van-thu-ngoai-giao-tran-nhan-tong/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 17 Mar 2013 14:15:19 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Những tác phẩm của Trần Nhân Tông]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://trannhantong.net/?p=1035</guid>
		<description><![CDATA[Về văn thư ngoại giao, ta hiện có bốn nguồn chính. Đó là An Nam truyện của Nguyên sử 209, Biểu chương của An Nam chí lược 6, Thiên nam hành ký và phần Phụ lục của Trần Cương Trung thi tập. Nguyên sử còn giữ cho ta 8 đoạn phiến của 8 lá thư mà vua Trần Nhân Tông đã viết cho Hốt Tất Liệt và các thuộc hạ của y. Lá thư sớm nhất do Nguyên sử ghi [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div id="page-23" class="tab-content-small" style="display: block;">
<div class="text">
<div>Về văn thư ngoại giao, ta hiện có bốn nguồn chính. Đó là <em>An Nam truyện</em> của <em>Nguyên sử</em> 209, <em>Biểu chương</em> của <em>An Nam chí lượ</em>c 6, <em>Thiên nam hành ký</em> và phần<em> Phụ lục</em> của <em>Trần Cương Trung thi tập. </em></div>
<div></div>
<div><em>Nguyên sử</em> còn giữ cho ta 8 đoạn phiến của 8 lá thư mà vua Trần Nhân Tông đã viết cho Hốt Tất Liệt và các thuộc hạ của y. Lá thư sớm nhất do<em> Nguyên sử</em> ghi lại là vào tháng 11 năm Chí Nguyên thứ 15 (1278) khi Sài Thung đến Ung Châu, để phản đối việc dùng con đường Ung Châu đến nước ta và yêu cầu phải trở về dùng con đường Vân Nam cũ. Đây rõ ràng là một đoạn trích trong lá thư chắc chắn dài hơn, nhưng ngày nay đã mất. Những lá thư sau của vua Trần Nhân Tông trong <em>Nguyên sử</em> cũng có dạng như thế chủ yếu cũng chỉ là những đoạn trích. Tuy nhiên, phải nói đây là những đoạn trích tương đối trung thành. Ta biết được điều này, vì có một số lá thư chỉ được trích trong <em>Nguyên sử</em>, nhưng lại được giữ trọn vẹn trong<em> An </em><em><span>Nam</span></em><em> Chí lược</em>.</div>
<div></div>
<div>Chẳng hạn, đoạn trích từ tờ biểu tháng 12 năm Chí Nguyên 15 (1278) do phái bộ Phạm Minh Tự, Trịnh Quốc Toản và Đỗ Quốc Kế đem qua cho Hốt Tất Liệt trong An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 4b-6 viết:<em> “Cô thần bẩm khí yếu đuối, mà đường xá thì khó khăn, chỉ luống phơi xương trắng, đến nỗi bệ hạ xót thương, mà không ích gì cho thiên triều muôn một. Nép mong bệ hạ thương xót tiểu quốc xa xôi, khiến thần được cùng bọn đơn côi quan quả, giữ được tính mệnh để suốt đời phụng sự bệ hạ. Đó là sự may lớn của cô thần, cũng là phúc to của sinh linh tiểu quốc”. </em>Đây đúng là đoạn trích từ tờ biểu năm Chí Nguyên thứ 15 chép trong phần <em>Biểu chương</em> của <em>An Nam chí lượ</em>c 6 tờ 75-77: <em>“Thần sinh trưởng Việt Thường, bẩm khí nhuyễn nhược, (&#8230;), khủng đạo thượng hữu phường, đồ bộc bạch cốt, trí bệ hạ nhân tâm, diệc tự ai thương chi nhĩ (&#8230;). Phục vọng bệ hạ ai cô thần chi đơn nhược, lân tiểu quốc chi liêu viễn, lịnh thần đác dự quan quả cô độc, bảo kỳ tính mạng, dĩ chung sự bệ hạ, thử thần chi chí hạnh, ức diệc tiểu quốc sinh linh chi đại phước dã”. </em></div>
<div></div>
<div>Từ so sánh hai đoạn này, ta thấy chắc chắn tám đoạn trích văn kia cũng được giữ nguyên vẹn tình trạng văn bản chứ không bị sửa đổi nhiều, đến nỗi đánh mất hết diện mạo nguyên thủy của chúng. Từ đó, chúng tôi coi những đoạn trích văn ấy, dù ngắn ngủi và đoạn phiến, vẫn đại biểu cho những văn thư ngoại giao của vua Trần Nhân Tông, mà hiện nay ta chưa tìm lại được. Những trường hợp toàn văn lá thư còn được lưu giữ ở những nguồn khác, chúng tôi vẫn cho dịch và số thứ tự 1, 2, 3&#8230; của các văn thư sẽ được đánh thêm chữ a, b để phân biệt.</div>
<div></div>
<div>Trong 8 đoạn phiến này chúng tôi chỉ chọn trích 6 đoạn phiến thôi, vì hai đoạn phiến còn lại quá ngắn, viết vào khoảng tháng 2 năm Chí Nguyên 22 (1285). Một trả lời Thoát Hoan về việc mượn đường đi đánh Chiêm Thành: <em>“Nước đây đến Chiêm Thành thủy bộ chẳng tiện, xin tùy sức phụng dâng quân lương”</em>. Còn một báo về việc đi cống:<em> “Kỳ cống sẽ nhằm tháng mười, xin đường trước, dự bị sức dân. Nếu ngày Trấn Nam Vương xuống xe, mong có thư báo”</em>. Văn bản chúng tôi dùng để in lại nguyên văn chữ Hán là bản của <em>Tứ bộ bị yếu.</em></div>
<div></div>
<div>Nguồn thứ hai là từ phần Biểu chương của <em>An </em><em><span>Nam</span></em><em> chí lược</em> 6. Phần này hiện bảo lưu được 8 văn thư của vua Trần Nhân Tông. Nhưng thực tế chỉ có 7 văn thư. Bởi vì,lá thư đề <em>“Chí Nguyên tam thập niên tam nguyệt An Nam Trần bách bái</em>” ở <em>An Nam chí lược</em> 6 tờ 78-79 thực tế là một phần sau của lá thư đề ngày mồng 4 tháng 3 năm Chí Nguyên 30 (1293) chép trong <em>Trần Cương Trung thi tập phụ lục</em> tờ 20b4-21b8. Phần đầu của lá thư này lại bị cắt ra ở An Nam chí lược 6 tờ 79 dưới nhan đề <em>“Chí Nguyên tam thập niên tam nguyệt sơ tứ nhật An </em><em>Nam</em><em> Trần thượng biểu”.</em> Trừ văn thư bị cắt làm hai mảnh này,<em> An </em><em>Nam</em><em> chí lược</em> giữ lại cho ta 7 văn thư tương đối nguyên vẹn mà vua Trần Nhân Tông đã gửi cho Hốt Tất Liệt và con y là Nguyên Thành Tông. Hốt Tất Liệt 5 lá, Nguyên Thành Tông 2 lá:</div>
<div></div>
<div><em>1.<span>     </span></em><em>Văn thư gửi Hốt Tất Liệt năm Chí Nguyên 15 (1278) </em></div>
<div><em>2.<span>     </span></em><em>Văn thư gửi Hốt Tất Liệt năm Chí Nguyên 29 (1292) </em></div>
<div><em>3.<span>     </span></em><em>Thơ mừng thọ Hốt Tất Liệt năm Chí Nguyên 30 (1293) </em></div>
<div><em>4.<span>     </span></em><em>Văn thư gửi Hốt Tất Liệt năm Chí Nguyên 30(1293) </em></div>
<div><em>5.<span>     </span></em><em>Văn thư gửi Hốt Tất Liệt năm Chí Nguyên 30 (1293) </em></div>
<div><em>6.<span>     </span></em><em>Văn thư gửi Nguyên Thành Tông năm Nguyên Trinh thứ nhất (1295) </em></div>
<div><em>7.<span>     </span></em><em>Văn thư gửi Nguyên Thành Tông xin thỉnh Đại Tạng kinh năm 1295 </em></div>
<div></div>
<div>Nhữmg văn thư do <em>An </em><em><span>Nam</span></em><em> chí lượ</em>c chép, khi so với những văn thư có tương đương trong <em>Trần Cương Trung thi tập</em> <em>phụ lục</em>, thì tỏ ra có một số xuất nhập về ngữ câu chữ. Tuy nhiên, do vì A<em>n Nam chí lược</em> có nhiều sai sót như việc cắt đôi văn thư ngày mồng 4 tháng 3 năm Chí Nguyên 30 vừa nói, nên trong những trường hợp ấy chúng tôi chọn dịch bản của T<em>rần Cương Trung thi tập phụ lục</em> và chỉ dùng bản của An Nam chí lược để tham khảo. Bản<em> An </em><em>Nam</em><em> chí lượ</em>c chúng tôi dùng là hiệu bản do Đại học Huế xuất bản vào năm 1961. Hiệu bản này không tốt lắm, nhưng tối thiểu nó cho những cách đọc khác nhau từ các truyền bản như <em>Lạc thiện đường, Nhật Bản nội các văn khố, Đông Kinh Tỉnh gia đường văn khố</em> và sao bản của Bảo tàng Anh ở Luân Đôn. Cho nên khi dịch những văn thư, mà không có trong các nguồn khác, thì chúng tôi dùng hiệu bản này. Trong những trường hợp chúng tôi không đồng ý với hiệu bản, chúng tôi dựa vào cách đọc của những truyền bản có ghi chú ở phần khảo dị, mà điều chỉnh cho thích hợp, để dịch.</div>
<div></div>
<div>Nguồn thứ ba là <em>Thiên nam hành ký</em> do Từ Minh Thiện ghi lại trong đợt đi sứ tới nước ta vào năm Chí Nguyên 26 (1289). Từ Minh Thiện chép cả thảy được 6 văn kiện sau xếp theo thứ tự đã có trong <em>Thiên nam hành k</em>ý:</div>
<div></div>
<div>1.     Văn thư gửi Hốt Tất Liệt năm Chí Nguyên 25 (1288)</div>
<div>2.     Văn thư gửi Hốt Tất Liệt năm Chí Nguyên 26 (1289).</div>
<div>3.     Văn thư gửi Hốt Tất Liệt tháng 3 năm Chí Nguyên 26 (1289)</div>
<div>4.     Văn thư gửi hoàng hậu cùng tháng năm</div>
<div>5.     Văn bản gửi cống vật năm Chí Nguyên 26 (1289)</div>
<div>6.     Văn kiện gửi cống vật năm Chí Nguyên 23 (1286)</div>
<div></div>
<div>Trong 6 văn kiện này thì văn kiện cuối cùng có một lời chua: <em>“Một đoạn ở đây được bổ thêm vào tờ trạng dâng phương vật” </em>(thử nhất đoạn bổ nhập phương vật trạng trung). Điều này chứng tỏ văn kiện số 6 đúng là văn kiện ghi những phương vật do vua Trần Nhân Tông gửi biếu cho Hốt Tất Liệt vào năm 1286, sau khi ta đã đánh bại đợt tấn công năm 1285 nhằm làm dịu tình hình căng thẳng trong quan hệ giữa ta và triều đình Nguyên. Nó cho thấy có tới 52 món đồ vàng bạc châu báu cùng những chim thú lạ như chim Bát ca tức chim thu tử (sari), chồn gió, cá sấu v.vỢ Vua Trần Nhân Tông muốn qua chúng để làm cho Hốt Tất Liệt thấy quan điểm của vua Trần Nhân Tông về cuộc chiến tranh 1285. Đó là do các bọn tướng biên giới tham công gây nên, như chính vua đã bày tỏ trong lá thư viết về sau vào năm Chí Nguyên 25 (1288), chứ không phải do Hốt Tất Liệt.</div>
<div></div>
<div>Năm văn kiện còn lại tất cả đều thuộc vào những trao đổi ngoại giao vào năm Chí Nguyên 25 và 26. Những văn kiện này không thấy chép ở bất cứ nơi nào khác. Chúng soi sáng cho ta rất nhiều về những quan hệ Việt Nguyên, sau khi quân Đại Việt đã quét sạch những đội quân xâm lược do Thoát Hoan chỉ huy. Văn bản mà chúng tôi dùng nằm trong bộ <em>Thuyết phu</em> 51 tờ 18b3-23b7 do Hàm phần lâu in dập lại. Nguyên bản Hán văn chúng tôi sẽ dùng bản Hàm phần lâu này.</div>
<div></div>
<div>Bên cạnh bản in của Hàm phần lâu, chúng tôi cũng sở hữu một bản chép tay T<em>hiên nam hành ký </em>như tập thứ nhất trong<em> Bắc thư tải </em><em><span>Nam</span></em><em> sự ngũ tập</em>. Bản chép tay này không biết do ai thực hiện và vào lúc nào. Nhưng người chép trong <em>Tiểu dẫn</em> cho biết ông đã dùng bản của <em>Tục thuyết phu.</em> Khi so sánh, chúng tôi thấy có một số xuất nhập, không biết đến từ đâu. Chẳng hạn, tờ trạng dâng cống vật nằm cuối sách <em>Thiên nam hành ký</em>, bản Hàm phần lâu ghi năm Chí Nguyên 23, trong khi bản chép tay lại ghi năm 26 và không có lời chua nhỏ <em>“thử nhất đoạn bổ nhập phương vật trạng trung”</em>. Chúng tôi, vì thế, coi bản chép tay như một dị bản để tham khảo, còn dùng bản Hàm phần lâu, để in lại nguyên bản Hán văn các văn thư của vua Trần Nhân Tông do Từ Minh Thiện ghi lại.</div>
<div></div>
<div>Nguồn thứ tư là <em>Trần Cương Trung thi tập phụ lục </em>hiện còn lưu giữ cho ta 7 văn thư, đó là:</div>
<div></div>
<div>1.     Văn thư gửi Lương Tăng ngày 13 tháng giêng năm Chí Nguyên 30 (1293)</div>
<div>2.     Văn thư gửi Lương Tăng ngày 21 tháng 2 cùng năm</div>
<div>3.     Văn thư gửi Lương Tăng ngày 25 tháng 2 cùng năm</div>
<div>4.     Văn thư gửi Lương Tăng ngày 1 tháng 3 cùng năm</div>
<div>5.     Bài thơ chúc thọ Hốt Tất Liệt</div>
<div>6.     Văn thư gửi Hốt Tất Liệt nhân bài thơ ấy ngày 4 tháng 3 cùng năm</div>
<div>7.     Văn thư gửi Hốt Tất Liệt cùng ngày tháng năm</div>
<div></div>
<div>Đấy là 7 văn kiện mà Trần Phu với tư cách là phó đoàn của phái bộ Lương Tăng do Hốt Tất Liệt gửi đến nước ta vào năm 1293 đã sao chép lại cho ta trong thi tập của ông. Bốn văn kiện đầu là những trao đổi giữa vua Trần Nhân Tông và Lương Tăng về nội dung của việc đi sứ, chủ yếu là đòi biện giải về việc sang chầu và những tù binh do ta bắt được. Điểm lý thú là trong đợt tiếp sứ này, vua Trần Nhân Tông đã gửi biểu và tấu cùng một bài thơ mừng Hốt Tất Liệt thọ 80 tuổi, trong khi Hốt Tất Liệt đang hung hăng chuẩn bị đợt xâm lược nước ta lần thứ tư. Bài thơ mừng Hốt Tất Liệt vạn thọ đã được Trần Phu chép lại như sau:</div>
<div></div>
<div><em>Thiên tứ hoàng đế </em></div>
<div><em>Đế tứ thứ dân</em></div>
<div><em>Thần chúc thánh thọ</em></div>
<div><em>Ức vạn niên xuân</em></div>
<div></div>
<div>(Trời ban cho vua</div>
<div>Vua ban xuống dân</div>
<div>Thần chúc thánh thọ</div>
<div>Ức vạn năm xuân)</div>
<div></div>
<div>Đây là bài thơ thù tạc hiếm thấy, và qua nó ta thấy ý chí muốn xây dựng một nền hòa bình lâu dài giữa hai dân tộc láng giềng. Vua Trần Nhân Tông biết rất rõ ý đồ xâm lược của Hốt Tất Liệt cho nên đã kiên trì dùng những đòn ngoại giao mềm dẻo nhưng cương quyết, nhằm đè bẹp ý chí xâm lược ấy, sau khi đã trực tiếp đánh bại các đạo quân xâm lược do Hốt Tất Liệt gửi qua. Đọc những văn kiện trên cho ta thấy phần nào đối pháp ngoại giao của vua Trần Nhân Tông.</div>
<div></div>
<div>Văn bản mà chúng tôi dùng là bản chép tay của <em>Tứ khố toàn thư</em> đặt tại Văn uyên các của <em>Trần Cương Trung thi tập</em>. Bản chép tay này do Đỗ Quần Ngọc chép và bốn người khác đọc và hiệu đối là La Cẩm Sâm, Tôn Cầu Phú, Hà Tư Quân và Thái Đình Hành. Vì là bản do vua Càn Long ra lệnh chép, nên chữ viết đẹp, chân phương, rõ ràng, dễ đọc, có đóng dấu vuông của <em>Văn Uyên Các ấn</em> ở đầu quyển một và cuối quyển hai có đóng dấu vuông của <em>Càn Long ngự lãm chi bảo</em>, quyển ba ở trang đầu cũng có dấu của Văn Uyên Các ấn và cuối quyển <em>Trần Cương Trung thi tập phụ lục</em> lại cũng có dấu<em> Càn Long ngự lãm chi bảo</em>. Các thư của vua Trần Nhân Tông được chép trong <em>Trần Cương Trung thi tập phụ lục</em> ở các tờ 5b6-6a5, 11a7-12a5, 15aa2-18a7, 19a1-6, 19a7-8, 19b1-20a6 và 20a7-22a2. Mỗi tờ 2 trang, mỗi trang có 8 dòng, mỗi dòng 20 chữ, chép tụt xuống một chữ.</div>
<div></div>
<div>Tổng kết như vậy ta có cả thảy 22 văn kiện ngoại giao hiện còn do vua Trần Nhân Tông gửi cho vua quan nhà Nguyên. Chúng tôi xếp thứ tự các văn kiện này theo trật tự thời gian mà chúng đã được viết, tức từ văn kiện đầu tiên vào tháng 11 nhuận năm Chí Nguyên 15 (1278) cho đến văn kiện cuối cùng vào ngày mồng 4 tháng 3 năm Chí Nguyên 30 (1293) để cho người đọc tiện theo dõi. Các nguyên bản Hán văn, chúng tôi cũng sắp đặt theo một thứ tự như thế.</div>
<div></div>
</div>
<div class="clear"></div>
</div>
<div id="page-24" class="tab-content-small">
<div class="text">
<p class="MsoNormal"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">1</span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em>Lá thư tháng 11 nhuận năm Chí Nguyên thứ 15 (1278)</em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Nay nghe quốc công nhọc đến tệ quốc, biên dân không ai là không kinh hãi, không biết là sứ giả người nước nào mà đến ở đây. Xin rút quân về đường cũ để mà tiến. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"> </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">2a</span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em>Tờ biểu tháng 12 năm Chí Nguyên thứ 15 (1278)</em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Cô thần bẩm khí yếu đuối, mà đường sá thì khó khăn, chỉ luống phơi bộ xương trắng, đến nỗi bệ hạ phải xót thương mà không ích gì cho thiên triều trong muôn một. Nép mong bệ hạ thương xót tiểu quốc xa xôi, khiến thần được cùng bọn đơn côi quan quả, giữ được tính mệnh để suốt đời thờ phụng bệ hạ. Đó là nỗi may mắn lớn nhất của cô thần mà cũng là phúc to của sinh linh tiểu quốc. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><strong> </strong></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">2b</span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em>Tờ biểu năm Chí Nguyên thứ 15 (1278)</em></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Năm Chí Nguyên thứ 15, thế tử An Nam là cô thần, Trần, dâng biểu nói: </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-size: 14px; font-family: arial;">Hoàng đế bệ hạ được trời trên yêu mến. Cha thần thuận về thánh hóa, thấm nhuần ơn đức nhân từ như đất trời, hưởng lượng bao dung dơ uế như núi biển. Cha thần một đời đội ơn cảm đức rất hậu. Năm Chí Nguyên thứ 14 (1277), bất hạnh cha thần thất lộc. Ngày sắp mất, gọi cô thần đến bảo: </span><em style="font-size: 14px; font-family: arial;">“Bệ hạ khoan nhân đại độ, không bỏ sót nước nhỏ, thì chắc con tất được ân như đời trước. Ta nay chỉ vì trời không cho thêm tuổi, khiến không được thờ phụng thiên triều mà lấy làm hận thôi”.</em><span style="font-size: 14px; font-family: arial;"> Thần e sợ mới gặp tang cha mà kỳ cống hiến hằng năm lại vừa tới. Thần chẳng dám vì nỗi buồn tang cha mà lụy tới công việc. Lại thêm bọn sứ trước là Lê Khắc Phục lâu ngày chưa về để tiếp tục việc cống nạp hằng năm, nên tiếp tục sai bọn Trung thị đại phu Châu Trọng Ngạn, Trung lượng đại phu Ngô Đức Thiệu làm hành nhân sứ vâng đem biểu văn, phương vật, đến cửa khuyết dâng hiến, tuân theo chức nghiệp của cha thần, chẳng dám để rơi mất lời giáo huấn dùng lòng trung để dạy con. Sinh linh tiểu quốc đều bảo:</span><em style="font-size: 14px; font-family: arial;"> “Sau khi cha thần mất đi, thì thần sẽ kế tục chí hướng, làm tiếp sự nghiệp của cha thần, chính ở tại một việc làm đó. Bệ hạ thương yêu người trung trực, càng thêm khen thưởng, thì thế tử của ta ở trong sự không may mắn mà thật có sự may mắn”. </em><span style="font-size: 14px; font-family: arial;">Rồi mỗi mỗi tự ngóng cổ trông lên trời trăng miền bắc để ngóng mong.</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Kịp tới năm Chí Nguyên thứ 15 (1278), bọn Châu Trọng Ngạn chưa về. Chỉ thiên sứ Sài thượng thư mang chiếu thư cùng với bọn Lê Khắc Phục lần trước, cùng đến tiểu quốc. Thần đem bá quan nghênh tiếp đủ lễ, đốt hương vái đọc, nép thấy chiếu thư bảo phải vào chầu. Thần khôn xiết kinh sợ, và sinh linh cả nước truyền nghe lời ấy nhao nhao mất hết bình tĩnh. Ấy bởi vì thần sinh trưởng ở nước Việt Thường, bẩm khí yếu đuối, thủy thổ không quen, nóng lạnh chẳng chịu. Dù xem được quang cảnh thượng quốc, sung làm khách của vương đình, thì vẫn sợ có chuyện trên đường, luống phơi xương trắng, đến nỗi lòng nhân của bệ hạ cũng tự cảm thấy xót thương, mà chẳng ích gì cho thiên triều trong muôn một. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Bệ hạ một thể với trời. Thần thờ phụng bệ hạ giống như thờ trời. Dù trông lên trời xanh chín tầng xa thẳm, mà oai trời chưa thường dám trái trong gang tấc, ơn vua chưa thường không ghi lòng tạc dạ. Khi làm bề tôi thời Châu Thành Vương thì trùng dịch đến cống. Đến thời Võ đế thì bỏ ngoài không tính vì thương nước nhỏ, đường sá xa xôi, núi sông sâu hiểm. Huống nay, bệ hạ nơi nào xe thuyền đến tới, sương móc xa rơi, trời trăng chiếu tới, thì chẳng ai là chẳng thần phục, so với nhà Châu, nhà Hán thật cách nhau vạn vạn, không thể cùng một ngày mà nói hết. Từ thuở khai thiên lập địa đến nay chưa có lúc nào thiên hạ được thống nhất to lớn như ngày nay. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Bệ hạ thi hành nhân đức trước hết là nhằm cho người hoang quả cô độc. Đến các loại nhỏ mọn như côn trùng thảo mộc cũng mỗi mỗi thỏa được tính mình. Thần mắc tội với trời, chỉ sợ không được thấm nhuần ơn phước. Chính trị của bệ hạ tốt hơn nhà Châu, lòng nhân của bệ hạ sâu hơn nhà Hán. Nép mong bệ hạ thương nỗi đơn chiếc yếu đuối của cô thần, xót nơi xa xôi của tiểu quốc, mà khiến cho thần được cùng với quan quả cô độc giữ được tính mạng của mình để suốt đời phụng thờ bệ hạ. Đó là điều rất may của cô thần, mà cũng là phúc lớn của sinh linh tiểu quốc. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"> </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">3</span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em>Thư tháng 11 năm Chí Nguyên 20 (1284)</em></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Lá thư tháng 11 năm Chí Nguyên thứ 20, gửi cho Bình chương chính sự của Kinh hồ Chiêm Thành hành tỉnh là A Lý Hải Nha: </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Về một việc thêm quân, thì Chiêm Thành thờ phụng tiểu quốc lâu ngày. Cha tôi chỉ vụ lấy đức mà giữ họ. Đến thân của kẻ côi này cũng kế thừa chí hướng của cha mình. Từ khi cha tôi thuận về với thiên triều 30 năm đến nay, vũ khí can qua tỏ ra không cần dùng tới, quân lính bỏ về làm dân. Ấy một phần giúp vào việc cống hiến cho thiên triều, và một phần tỏ tấm lòng không mưu đồ gì khác. Rất mong các hạ thương xót xét cho. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Còn về việc giúp lương, thì địa thế tiểu quốc tiếp giáp với biển, ngũ cốc sản xuất không nhiều. Từ khi đại quân đi rồi, trăm họ vẫn còn trôi dạt. Thêm vào đó, bị lụt hạn, sáng no chiều đói, ăn uống vẫn không đủ. Tuy nhiên, các hạ ra lệnh thì vẫn không dám trái. Xin ở đất châu Vĩnh An trên cõi Khâm Châu, xin đợi đem đến nạp. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Còn việc tiếp tục bảo cô tử tự thân đến cửa khuyết, gặp mặt đức vua để nhận lời dạy bảo, thì lúc cha già của thần còn sống, thiên triều đã thương xót mà bỏ ra ngoài tính toán. Nay cha già của thần đã mất, còn cô thì đang chịu tang, cảm bịnh đến nay, còn chưa khỏe lại như thường. Huống nữa, kẻ côi này sinh trưởng ở nơi xó xa, chẳng chịu nóng lạnh, chẳng quen thủy thổ, đường sá khó khăn, chỉ phơi xương trắng. Nếu lấy bồi thần của tiểu quốc đi lại, còn bị khí độc nhiễm xâm, có lúc mười người thì đến năm sáu, hoặc có khi chết đến hơn nửa. Các hạ cũng đã biết rõ điều đó rồi. Chỉ mong riêng vì lòng thương giúp, mà tâu bày với thiên triều hầu giúp thiên triều biết ý của kẻ côi này cùng tôn tôợc quan lại mỗi mỗi sợ chết tham sống. Há chỉ một mình kẻ côi này nhận được ơn ban mà còn sinh linh của một nước nhờ thế được an toàn. Cùng chúc cho các hạ hưởng được phước lớn từ trời ấy mãi mãi. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-size: 14px;"><strong>4</strong></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em>Lá thư tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 21, gửi cho Kinh Hồ Chiêm Thành hành tỉnh</em></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Chiêm Thành đã nội thuộc tiểu quốc. Đại quân đến đánh, lẽ đương nhiên tiểu quốc phải thương xót, nhưng chưa từng dám nói ra một lời. Ấy bởi thời trời việc người, tiểu quốc cũng đã biết rồi. Nay Chiêm Thành lại làm chuyện phản nghịch chấp mê, không chịu trở lại. Đó gọi là kẻ chẳng thể biết trời biết người. Kẻ biết trời biết người mà trở lại cùng mưu với kẻ không biết trời biết người, thì tuy trẻ mới lên ba cũng biết là không thể cùng được. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span lang="FR">Huống là tiểu quốc ư? Mong quí hành tỉnh xét kỹ. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span lang="FR"> </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span lang="FR">5</span></span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal"><em style="font-size: 14px; font-family: arial;"><span lang="FR">Lá thư tháng 10 năm Chí Nguyên thứ 21, gửi cho Thoát Hoan</span></em></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span lang="FR">Tuy không thể chính mình thấy được ánh thừa, nhưng trong lòng đã rất hân hạnh. Ngày trước, kính được chiếu vua nói rằng: “Có lệnh riêng quân ta không được đi vào nước ngươi”. Nay thấy Ung châu doanh trại cầu đò, thường thường liên tiếp. Thật rất sợ hãi, rất mong hiểu rõ lòng trung thành mà thêm chút thương xót. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span lang="FR"> </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span lang="FR">6</span></span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span lang="FR">Thư tháng 10 năm Chí Nguyên thứ 21 (1284), gửi cho Thoát Hoan</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span lang="FR">Chiếu trước đã riêng ra lệnh “quân ta không được vào nước ngươi”. Nay vì Chiêm thành đã xưng bề tôi mà làm phản trở lại, nhân thế phát đại quân đi qua do bản quốc mà tàn hại trăm họ. Đó là việc làm sai trái của thái tử, chớ không phải sai trái của bản quốc. Kính mong chớ đi ra ngoài chiếu trước. Rút đại quân về. Bản quốc sẽ sắm đủ cống vật, đem dâng lại có khác với trước. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span lang="FR"> </span></span></span></p>
<p><strong><span style="font-size: 14px;">7</span></strong></p>
<p><em style="font-size: 14px; font-family: arial;"><span lang="FR">Lá thư tháng 3 năm Chí Nguyên 23 (1286)</span></em></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span lang="FR">Ngày tháng 3 năm Chí Nguyên 23 (1286), thế tử nước An Nam là thần Trần Nhật Huyên kính gửi: </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span lang="FR">1. Hòm đựng biểu bằng gỗ son có quách bằng bạc phủ vàng cùng với chìa khóa, một bộ. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span lang="FR">2. Voi thuần, một con. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span lang="FR">3. Yên ngựa vàng góc liền với bàn ngồi, một chiếc (vàng góc nặng 10 lạng) </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span lang="FR">4.Đài bạc phủ vàng cùng trái bóng liền lông trâu, 5 bộ (cộng lại nặng 6 lượng 14 tiền). </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span lang="FR">5. Lục lạc bằng đồng có mạ vàng, 7 chiếc. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">6. Sừng linh dương, một bộ. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">7. Chiếu gấm màu lục đậm, một chiếc. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">8. Dây bông hồng, bốn tao. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">9. Tấm choàng mưa bằng vải lăng màu đỏ có dụ kim, một tấm. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">10. Mâm ngự đá hoa góc vàng phủ bạc, một chiếc. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">11. Bình lưu ly cùng với nắp vàng, 2 chiếc. Cộng lại nặng 1 lạng 6 tiền. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">12. Đế đèn vàng, một đôi (cộng lại nặng 14 lạng). </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">13. Mâm sừng tê bốn góc phủ bạc, một chiếc. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">14. Chén trầm hương vàng góc có nắp đậy, một chiếc. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">15. Đĩa lá sen phủ vàng, một cái. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">16. Dù vàng 3 lạng 7 tiền. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">17. Đĩa lá sen vàng 5 lạng. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">18. Đĩa dạng móng vàng 6 lạng 8 tiền, một cái. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">19. Bầu vàng một cái 10 lạng. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">20. Đĩa kim tê vàng góc liền đáy, một chiếc 4 lạng. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">21. Chén tê giác vàng góc một cái (vàng góc 5 lạng) </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">22. Đĩa vàng dùng đủ một cái 2 lạng 8 tiền. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">23. Lò vàng liền với đũa vàng một bộ. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">24. Lò vàng một cái bốn lạng. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">25. Đũa vàng một lạng ba tiền. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">26. Que xóc thịt bằng vàng, một que 7 tiền. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">27. Đai vàng ròng, một bộ 4 cái. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">28. Bàn cờ bằng xương voi cái, có màu gỗ vằn sáng, góc vàng phủ bạc, một chiếc ba lạng. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">29. Hộp phủ vàng có phủ xen vàng đỏ liền với múi, một chiếc 25 lạng. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">30. Bộ quân cờ bằng ngà voi, một bộ 32 con. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">31. Hoa tê ba cành phía dưới phủ vàng xen bạc, ba món nặng 18 lạng. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">32. Sừng tê giác Đại ô năm chiếc liền với ván đáy có vẽ năm miếng. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">33. Chậu rửa bằng vàng 5 chiếc, cộng 10 lạng. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">34. Chậu rửa vàng đỏ 10 chiếc, cộng lại nặng 300 lạng. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">35. Bình bạc đựng đầy dầu tô hợp hương, ba chiếc (dầu cộng nặng 163 lạng, bình cộng nặng 79 lạng). </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">36. Đoạn lông vàng nước Tây Dương hai xấp. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">37. Quyến mịn vải ngũ sắc 50 tấm. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">38. Gấm mọi 100 tấm. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">39. Vải trắng nước Chà Và 20 cân. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">40. Vải chen màu nước Chà Và 10 cân. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">41. Lông chim trả 100 chiếc. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">42. Bạch đàn hương 2 tể, cộng lại nặng 10 cân. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">43. Mai hương đàn 2 tể, nặng 70 cân. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span lang="FR">44. Ca ma nhiên hương 100 cân. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span lang="FR">45. Thảo quả 10 cân. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span lang="FR">46. Ngà voi 20 chiếc. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span lang="FR">47. Sừng tê giác 20 chiếc. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span lang="FR">48. Chim ó 20 con. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span lang="FR">49. Chim trĩ hai con. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span lang="FR">50. Rái cá một con. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span lang="FR">51. Cá sấu 8 con. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">52. Chim bát ca một con. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">8</span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em>Tờ biểu năm Chí Nguyên thứ 25 (1288)</em></span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Chí Nguyên năm thứ 25 (1288) nước An Nam dâng biểu nói: </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Vi thần, thế tử nước An Nam Trần Nhật Huyên lo sợ, trăm lạy quên chết phục tội, dâng lời lên Hoàng đế bệ hạ được trời cao yêu mến. Được Thánh chỉ lúc này, như gió ấm cởi lòng, kính mong thánh thể sinh hoạt vạn phúc. Cha con của vi thần, qui thuận thiên triều đã 30 năm hơn. Dẫu vi thần đau mang bệnh tật,ử đường sá xa xôi,ử bệ hạ vẫn để cho ở bên ngoài tính toán, chỉ nhận lấy phương vật cống hiến, mà sứ thần dâng lên, năm tháng chưa từng thiếu sót.</span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Đến năm 23 (1286) bình chương A Lý Hải Nha vì tham lập công biên giới, làm trái với thánh chỉ. Do thế, tiểu quốc sinh linh một phương phải chịu lầm than. Sau khi đại quân về rồi, vi thần mới biết lòng hạ thần bị ngăn chận, do lời dữ mà bị vu oan là làm phản, gọi thành tội lỗi của thần. Thần đặc biệt sai bọn thông thị đại phu Nguyễn Nghĩa Toàn, hiệp trung đại phu Nguyễn Đức Vinh, hữu vũ đại phu Đoàn Hải Cung, Trung đại phu Nguyễn Văn Ngạn phụng đem phương vật đến trước cửa khuyết, ý muốn thêm chút lòng thương của bệ hạ, há mong gì hơn. Thế mà họ đều không trở về. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Chí Nguyên năm thứ 24, mùa đông, lại thấy đại quân thủy bộ đều tiến sang, thiêu đốt chùa chiền khắp nước, đào bới mồ mả tổ tiên, bắt giết người dân già trẻ, đập phá sản nghiệp trăm họ. Các hành động tàn nhẫn phá phách, không gì là không làm. Lúc bấy giờ, thần sợ chết, liền trước trốn đi. Tham chính Ô Mã Nhi nói với người trong nước truyền báo cho thần rằng:<em> “Mày chạy lên trời, tao theo lên trời. Mày chui xuống đất, tao theo xuống đất. Mày trốn trong núi, tao chạy vào núi. Mày chạy xuống biển, tao sẽ xuống biển”.</em> Trăm thứ tủi nhục, lời nói chẳng hết. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Thần nghe những lời ấy, biết mình không khỏi tội, càng đi trốn xa hơn, những mong thái tử xót thương, riêng theo nguyện vọng của tiểu quốc, mà đưa đại quân đi về. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Tham chính Ô Mã Nhi lâu nắm binh thuyền, riêng ra ngoài biển, bắt hết biên dân vùng biển, lớn thì giết chết, nhỏ thì bắt đi, cho đến treo trói, xẻ mổ, mình đầu khắp chốn. Trăm họ bị bức tới chỗ chết, bèn dấy lên cái họa của con thú chân tường. Vi thần sợ sẽ dây dưa đến mình, nên tự thân tới ngăn cản, nhưng đường xa lại không kịp. Khi nghe thấy trăm họ đưa đến đại vương Tích Lệ Cơ, một người, bảo là thuộc quí thích của đại quốc, thần ngay ngày đó đã sắm lễ đối đãi, hết mực tôn trọng. Thần kính hay là không kính, đại vương tất biết. Còn việc làm của Ô Mã Nhi tàn khốc bạo ngược, thì chính đại vương mắt thấy. Vi thần chẳng dám nói dối. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Thủy thổ của tiểu quốc rất độc, viêm chướng thật nhiều, thần sợ ở lâu tất sinh tật bệnh. Tuy vi thần đã hết lòng phụng dưỡng thì cũng không khỏi được tội các tướng tham lợi quân công ở biên giới mà có lời tâu không căn cứ. Vi thần đã kính cẩn, có đủ lễ vật đi đường, sai người đến trước biên giới đưa tiễn đại vương về nước. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Kính mong bệ hạ đức sánh càn khôn, ơn hơn cha mẹ, trí như đem đuốc rọi chỗ tối, sáng đủ để biết tình ngay gian, nguyện xin xét kỹ mà thêm lượng khoan hồng, hầu khiến vi thần miễn khỏi tội lỗi, được hết lòng thờ trời suốt đời, há chỉ vì vi thần cùng với sinh linh một phương, tử sinh cốt nhục, muôn đời nhận được ơn sinh thành đại tảo, mà cũng để cho hết thảy các nước được may mắn thật hưởng sự nhân từ của lòng nhân bệ hạ. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Ngoài ra, những kẻ sót mất của đại quân còn hơn những ngàn người, thần đã phát lệnh đưa về. Nếu sau này có gặp nữa, thì thần cũng tìm ra và bảo trở về. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Tiểu quốc gần đây gặp phải binh hỏa. Vả lại lúc này khí trời còn nóng, cống vật và sứ giả khó có kiếm ra. Đợi đến mùa đông mới có thể sai đi được. </span></span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Lòng hạ thần không có gì khác, không dám van trời nài thánh, hoảng sợ quên chết, phục tội khôn xiết, kính cẩn tâu bày. </span></span></p>
</div>
<div class="clear"></div>
</div>
<div id="page-25" class="tab-content-small">
<div class="text">
<div><strong>9</strong></div>
<div><strong><em>Tờ biểu tháng tư năm Chí Nguyên thứ 25 (1288)</em></strong></div>
<div></div>
<div><span>Thế tử nước An Nam là vi thần Trần Nhật Huyên, sợ hãi quên chết phục tội, dâng lời lên hoàng đế bệ hạ được trời cao yêu mến. Lúc này ba xuân sáng đẹp, muôn vật sinh sôi, kính mong thánh thể sinh hoạt vạn phúc. </span></div>
<div></div>
<div><span>Vi thần vào ngày 1 tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 26, thấy Lưu thiên sứ, Lý thị lang, lang trung Đồng Đường Ngột Đãi, Cáp Tán, Ống Cát Lạp Đãi đã phụng đem thiên chiếu cùng các tiểu sứ của thần là mấy bọn bề tôi Nguyễn Nghĩa Toàn trở về. Thần khôn xiết vui mừng kính cẩn đốt hương vái đọc ở chính điện. Đến khi quân đội một lần cùng đến, hồn vi thần phách tán, lòng dạ như bị dội đập. Thật đúng như người ta thường nói, sướng chưa trọn mà buồn đã tới, vui chưa thỏa mà sợ lại đến. Vi thần liền trốn ở góc biển, lâu ngày bị bệnh tật, đường sá xa xôi, thủy thổ khó khăn. Mạng sống tuy liên hệ với số trời, nhưng tình người thì lại rất sợ chết mất. </span></div>
<div></div>
<div><span>Thêm vào đó, đại quân đã lắm lần chinh phạt, giết cướp lại nhiều. Anh em không kẻ hiền lương, dựng chuyện tâu sàm không ít. Trước đây, quốc thúc Di Ái rõ ràng trốn mất ở ngoài biên cảnh, bèn trở ngược vu cáo thần là đã làm việc chuyên giết. Lại người em giữa Ích Tắc tự đem mình đến trước đại quân xin vái đầu hàng. Ấy là muốn đến trước để lập công cho mình. Huống nữa là những người đến thay mà tâu bày, thì lại càng thêm ngoa dối. Vi thần thập tử chứ không có một chút sống nào. </span></div>
<div></div>
<div><span>Bệ hạ đức quá Đường Ngu, sáng sánh trời trăng, thì lòng chân thành hay dối ngụy, không điều gì là không tỏ rõ, việc tối tăm nhỏ nhiệm không gì là không soi tới. Do thế, đại quân sau trước giết tróc, vi thần vẫn thường ghi lòng hai chữ trung thuần. Năm qua tháng lại chưa từng bỏ thiếu. Ấy là bởi vì cậy có thánh nhân ở trên trời, như mặt trời rọi tới những nơi chưa tỏ rõ. Khi đại quân vừa rời khỏi, mà thiên sứ chưa tới, thì vi thần đã sai bọn trung đại phu Trần Khắc Dụng, phiếm nghĩa lang Nguyễn Mạnh Thông kính đem vật mọn đến cửa khuyết hiến dâng tạ tội, những mong khoan hồng, riêng ban lòng xem xét. Thế cũng đủ thấy lòng sợ chết tham sống của vi thần. Ngoài ra tuyệt nhiên không dám làm việc bội nghịch nào khác. </span></div>
<div></div>
<div><span>Năm ngoái, bách tánh của tiểu quốc đem quan quân tới. Vi thần chính mình hỏi han thì chỉ được ba tên là đại vương Tích Lệ Cơ, tham chính Ô Mã Nhi và tham chính Phàn (Tiếp). Bá tính đều cho ba người này đã giết vợ con họ, đốt phá nhà cửa họ, nên phần lớn muốn làm chuyện phi nghĩa. Vi thần chính mình ra sức bảo vệ, cấp dưỡng hậu hĩ, thê thiếp họ thì cơm ăn áo mặc phủ phê, hành trang đi đường thì được chuẩn bị đầy đủ đưa đến trước. Đặc biệt sai sứ thần là Tùng nghĩa lang Nguyễn Thịnh đi theo đại vương Tích Lệ Cơ, Đồng Đường Ngột Đãi đến cửa khuyết. </span></div>
<div></div>
<div><span>Trong khi đó, hai tham chính bị rớt lại sau. Nguyên do vì đại quân mới rút, lòng sợ hai tham chính chưa hết cơn giận, tất gây họa hại. Vì thế mạn phép lưu lại sau mới ra đi, há có hẹn rày mai. Vi thần chẳng may việc trái với lòng. </span></div>
<div></div>
<div><span>Phàn tham chính bỗng gặp bệnh sốt. Vi thần đem hết thuốc men của mình nhờ những thầy thuốc bộ hạ của Phàn tham chính để chữa, nhưng đã không khá, dần dần đến chỗ mất thân. Vi thần đã hỏa táng, làm đủ mọi lễ công đức, xong rồi nhân thế, cấp ngựa, lụa giao cho thê thiếp của Phàn tham chính đưa hương cốt trở về. Bọn thiên hộ Mai Thế Anh, Tiết Văn Chính đi theo hộ tống về nhà cùng một lần. Ngày Lưu thiên sứ đến đều bảo đã qua tới Ung Châu rồi. Phàm việc quản đãi hằng ngày ấy có kính trọng hay không thì hỏi đám thê thiếp cũng có thể biết vậy. </span></div>
<div></div>
<div><span>Tham chính Ô Mã Nhi thì đúng kỳ tiếp tục đi sau để trở về. Ông ấy cho đường trở về, do đi qua Vạn Kiếp nhân thế xin trước đến Hưng Đạo Vương giúp cho phương tiện đi về. Trong hành trình trên bộ dưới nước, đêm gặp phải hỏa hoạn, thuyền chở vì thế nước tràn vào. Tham chính thân hình cao lớn, khôn hay vớt kịp, đến nỗi chết chìm. Nhân phu tiểu quốc lặn tìm cũng đều chết theo. Thê thiếp và tiểu đồng của tham chính suýt hãm chết, song nhờ thân hình nhẹ nhỏ mới cứu được khỏi. Vi thần hỏa táng, làm đủ công đức. Thiên sứ là lang trung (Lý Tư Diễn) chính mắt trông thấy. Hoặc nếu bất kính, thì có thê thiếp của ông ấy ở đó khó có thể che giấu. Vi thần kính cẩn chuẩn bị đầy đủ cho việc trở về, cũng giao cho thê thiếp cùng với một xá nhân lang trung tiếp tục trở về nước sau. </span></div>
<div></div>
<div><span>Ngoài ra, các quân nhân còn bị hãm tại chỗ vi thần trước đây, kể hết có hơn tám ngàn người. Trong số đó hoặc có những vị đầu mục, vi thần đều không biết. Nay nhờ chiếu dụ, vi thần lại đi tìm kiếm, được đầu mục quân nhân bao nhiêu tên, thì cùng theo thiên sứ mà trở về. Sau này còn có sót mất hoặc chưa tìm hết thì vi thần cũng sẽ cho ra về, không dám lưu lại một người nào. </span></div>
<div></div>
<div><span>Cúi mong bệ hạ như núi biển bao hàm, dơ bẩn chứa hết, nuôi mắt sáng, rộng tai rõ, mỗi mỗi khoan hồng, bỏ ngoài tính toán, khiến cho vi thần khá được một đời bảo toàn đầu cổ để trọn lòng thờ trời, mà còn mong đời đời kiếp kiếp tan thịt nát xương báo đáp ơn vua trong muôn một. Xét mong ơn vua ngay thẳng, rất đỗi sợ hãi kính tâu. </span></div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong><span>10</span></strong></div>
<div><strong><em>Tờ trạng tháng 3 năm Chí Nguyên 26 (1289)</em></strong></div>
<div></div>
<div><span>Chí Nguyên ngày tháng 3 năm 26 (1289) thế tử nước An Nam là vi thần Trần Nhật Huyên dâng trạng tâu xin tiến phương vật, nói rằng: </span></div>
<div></div>
<div><span>Thế tử nước An Nam là vi thần Trần Nhật Huyên nép nghĩ, tháng 2 năm nay gặp thiên sứ Lưu án sát vâng đem chiếu trời. Vi thần, lâu mắc bệnh tật, sợ tội, kính cẩn chuẩn bị vật mọn, sai bọn bồi thần Đàm Minh Thông, Thị đại phu Chu Anh Chủng và một hành nhân, khiến tùy thiên sứ đi đến thượng quốc dâng hiến. Nay kê đầy đủ tên số vật kiện ở dưới, tại chỗ cuối quyển, phía trên mỗi hạng vật mọn, theo trạng dâng lên. Cúi mong thánh từ phủ tứ giám nạp. Kính trạng. </span></div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong>11</strong></div>
<div><strong><em>Thư tháng 3 năm Chí Nguyên 26 (1289)</em></strong></div>
<div></div>
<div><span>Ngày tháng 3 năm Chí Nguyên 26 (1289), thế tử nước An Nam là vi thần Trần Nhật Huyên dâng trạng thơ lên Hoàng hậu, nói rằng: </span></div>
<div>Thế tử nước An Nam Trần Nhật Huyên kính cẩn cúi đầu dâng thơ, nói:</div>
<div></div>
<div>Lúc này đường huệ phong quang, tiêu phòng trời ấm. Kính nghĩ Hoàng hậu điện hạ sinh hoạt vạn phúc, chủ trương nội trị hưng thịnh, công lao dồn lại cho bá vương, biểu thị mẫu nghi hóa dục, lòng nhân coi mọi người cùng đồng như một, gây nên cơ sở thể hiện đức hiếu sinh. Cho nên được lòng vui của muôn nước, không nỡ để một kẻ hèn mất nơi, xin lòng thương cho đến hoang vu cùng được dự tắm lòng từ rộng lớn, còn lo âm nhạc cho hòa, càng giúp ao ngọc thêm thọ. Kính cẩn ghi đủ vật mọn ở tại giấy riêng để xin dâng hiến, cúi mong giám nạp.</div>
<div></div>
<div><span>Thần rất sợ rất hãi, cúi đầu kính nói. </span></div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong><span>12</span></strong></div>
<div><strong><em>Thư tháng 3 năm Chí Nguyên (1289)</em></strong></div>
<div></div>
<div><span>Ngày tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 26 (1289), thế tử nước An Nam thần Trần Nhật Huyên dâng thơ tiến phương vật, kể rằng: </span></div>
<div></div>
<div>1. Bông tai đeo toàn bằng vàng có kết trân châu, một đôi.</div>
<div>2. Giỏ đồi mồi, một cái.</div>
<div>3. Áo lĩnh chầu bằng vàng có ngọc châu màu đỏ, một cái.</div>
<div>4. Hộp bạc, một cái.</div>
<div>5. Ngọc châu màu, 16 hạt (gồm ngọc châu hoàng long 4, ngọc châu tử ni 4, ngọc châu bích ni 4, ngọc châu thạch lựu 4).</div>
<div>6. Trân châu 276 hạt (lớn 2, vừa 10, cỡ như hạt mè 200)</div>
<div>7. Xuyến trân châu có tráng vàng một cặp (châu 1000 hạt, vàng nặng một lạng).</div>
<div>8. Chén kim khuyên một bộ. Cộng lại là 4 lạng 5 tiền.</div>
<div>9. Chén hoa tê, đĩa vàng toàn dùng một chiếc, nặng 3 lạng.</div>
<div>10. Chén vàng liền nắp một cái, nặng 9 lạng 6 tiền.</div>
<div>11. Gấm một xấp.</div>
<div>12. Đoạn thiên ty hai xấp.</div>
<div>13. Vải quyến ngũ sắc sợi nhỏ 20 xấp.</div>
<div>14. Vải trắng nước Chà Và 1 xấp.</div>
<div>15. Lông chim trả 50 chiếc.</div>
<div></div>
<div><span>Trên đây là những hạng mục vật mọn kèm theo thơ dâng lên. Cúi mong hồng từ phủ tứ giám nạp. Kính giãi bày. </span></div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong><span>13</span></strong></div>
<div><strong><em>Tờ biểu năm Chí Nguyên thứ 29</em></strong></div>
<div></div>
<div><span>Năm Chí Nguyên thứ 29 (1292), thế tử An Nam Trần dâng biểu nói, vi thần sáu thước, xưa nhờ cha dạy về việc thần sự thiên triều, không được bỏ phế một việc hằng năm cống hiến. Kíp kíp mãi ghi ở lòng. Sở dĩ là sợ tội tiếm thiết, nên đặc biệt sai bọn trung lượng đại phu Nghiêm Trọng Duy, hữu vũ đại phu Trần Tử Trường vào tháng 9 năm Chí Nguyên thứ 27 (1290) phụng đem vật cống đến cửa khuyết dâng hiến, trên để tỏ hết lòng thành thờ trời, dưới để nối chí tổ tiên. Kịp đến tháng 2 năm nay, thiên sứ chính nghị đại phu Trương Hiển Khanh, phụng thuận đại phu Bất Nhã Tiết Mục Nhi vâng đem chiếu trời và vật ban cùng Nghiêm Trọng Duy trở về tới tiểu quốc. Tông tộc, quan lại, bá tính kỳ lão cả nước hớn hở bảo nhau rằng: <em>“Thánh thiên tử đem lòng nhân mà thương vi thần, dùng trung thứ mà đãi người, thì chắc chắn đám sinh linh chúng ta thoát khỏi cảnh đồ thán.” </em></span></div>
<div></div>
<div><em><span>(&#8230;) </span></em></div>
<div></div>
<div><span>Thần và bá tính tiểu quốc khôn xiết kinh sợ. Việc đó, cha thần ngày còn sống, đã thường khiến sứ tâu lên, đúng vào lúc thần chưa dự vào chính sự, nên đó vốn là chỗ thần không biết, chớ không phải riêng dám qui lỗi cho cha thần, lại để tìm cách tự mình lại được khỏi tội. Vạn nhất mà thiên triều riêng rủ lòng khoan tha, thì đó là một điều may mắn cho thần. Nếu không thì đó là tội của thần đáng bị giết đi không xiết. </span></div>
<div></div>
<div><span>Đến việc bảo thần phải tự mình tới cửa khuyết, thánh thiên tử không tiếc vương tước phù ấn, lại phong đất đai như cũ, thì thần với tôn tộc quan lại của tiểu quốc, hồn kinh sống lại, vía chết lại yên, vì cho rằng thiên triều, nếu không nghĩ tới, há có thể giải đáp giống như thế ư? Cha ông của thần thời còn sống, thiên triều khen có lòng trung thành, thương chỗ xa xôi, bỏ ra ngoài mà không tính tới. Cho nên, năm Trung Thống thứ 12 (1269) đã có chiếu phong làm tước vương, ban cho phù ấn, riêng ra lệnh: <em>“Quân ta không vào nước ngươi, áo mũ lễ nhạc, không đổi tục cũ”</em>. Tổ phụ của thần nhờ thế mà giữ được đầu cổ cho đến chết. Sinh linh đến nay nhận ơn không ít. </span></div>
<div></div>
<div><span>Đến đời cha thần, không may biên cương gây họa, nhưng việc thờ trên vẫn một lòng chung thủy không đổi. Kịp đến đời thần, mạo thay giữ đất, thẹn được thiên triều nghĩ tới tấm lòng của cô thần, lại biết thần sinh trưởng nơi góc xa, không thuộc thủy thổ, không quen nắng mưa. Các sứ thần của tiểu quốc đi lại thường vì lam chướng mà chết đến sáu, bảy. Nếu thần không thể tự lượng thì chỉ chết ở dọc đường, rốt không ích gì cho công việc. Vả lại, tiểu quốc là một nước mọi rợ, phong tục bạc ác, một ngày sống mà rời nhau thì anh em chắc không thể dung thứ cho nhau. </span></div>
<div></div>
<div><span>Thánh thiên tử có lòng nuôi vật, có dạ thương côi, thì một bề tôi của tiểu quốc còn không nỡ bỏ sót. Huống nữa, cha ông của thần đời đời thờ vua, mà vội vàng trong một ngày nỡ khiến cho xương cốt chóng phơi, xã tắc trở thành gò đống ư? </span></div>
<div></div>
<div><span>Than ôi! Người đời nếu có kẻ được gặp mặt thánh, thì ở trong sách Phật gọi đó là phước lớn, còn sách Nho thì gọi đó là chuyện ngàn năm một thuở. Thần há không muốn xem quang cảnh thượng quốc, thân mình được tắm gội ơn vua, mà đã vội trái mệnh để chuốc lấy họa ư? Trời trên soi tỏ. Thật tình, vì thường tham sống sợ chết, thần xa cách thiên triều mà mắc tội ở góc trời thì sự che chở khoan dung chỉ cậy có bệ hạ sáng như trời trăng, lượng như thiên địa. Nếu không, dồn hết nước cả bốn biển cũng không đủ để rửa sạch tội của thần. </span></div>
<div></div>
<div><span>Thần nói hết lời, như gan phổi bày ra. Kính mong bệ hạ thương xót kẻ cô độc này, nghĩ tới sự khốn cùng của nó mà xét cho lòng cô trung của vi thần, tha tội nặng của vi thần, giúp vi thần được tạm kéo dài hơi tàn để hết lòng thành thờ kẻ lớn, bá tính mỗi giữ được tính mạng để hưởng lấy đức hiếu sinh. Há chỉ vi thần thịt nát xương tan, khôn có thể mong báo ơn vua trong muôn một, mà cùng khắp hết gầm trời, muôn miệng một lời cùng chúc tuổi vua muôn ức. </span></div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong><span>14</span></strong></div>
<div><strong><em>Thư ngày 13 tháng giêng năm Chí Nguyên thứ 30 (1293)</em></strong></div>
<div></div>
<div><span>Cô tử gửi thư cho thiên sứ đại tướng quân trướng hạ. Nay xét xe sứ mới đến, đầy thành xuân khí lung linh, liền biết có ý mới sinh, bút báo dạy răn để đón tiếp chiếu trời. Việc đủ để ghi nhận, hết lòng nhớ nghĩ. Cảm động lắm, cảm động lắm. </span></div>
<div></div>
<div><span>Lễ đón chiếu trời, từ xưa đã có. Từ ngày cha ông qui thuận đến nay đã định thành lệ thường, huống chi thân này dám mà không làm theo hết. Bèn kính cẩn đặc sai bề tôi chấp chính của bản quốc là Lê Khắc Phục ra tới biên cương xa đón. Đến ở trong nước, lễ tiếp được khiến dàn bày, tới ngày những mong rủ xuống những lời giáo huấn. Sơn lam chướng khí, e chẳng phải đất để có thể ở lâu dài. Nghĩ mong sớm được có lời bảo ít nhiều để an ủi lòng ngóng trông đau đáu. Kính đưa thư đáp này, rất mong xét nghĩ, khôn nói xiết hết. </span></div>
<div></div>
<div><span>Viết vào ngày 13 tháng giêng năm Chí Nguyên thứ 30 (1293). </span></div>
<div></div>
</div>
<div class="clear"></div>
</div>
<div id="page-26" class="tab-content-small">
<div class="text">
<div><strong><span>15</span></strong></div>
<div><strong><em>Thư ngày 21 tháng 2 năm Chí Nguyên thứ 30 (1293)</em></strong></div>
<div></div>
<div><span>Cô tử viết thư lại cho thiên sứ đại tướng công các hạ. Cô thẹn được bút hoa của ngài đáp lại, rủ xuống tấm lòng hết sức dạy dỗ yêu thương. Thật cảm kích, thật cảm kích. Cô là bề tôi thờ tiên triều từ ông nội đến nay đã hơn 30 năm, tuế cống không dứt, tuy hai lần gặp binh hỏa, vẫn thủy chung một lòng. Việc phải đắc tội chỉ là không thể đền chầu mà thôi. Cô há không biết lễ là nếu có lệnh vua đòi thì không được lần lữa. Nhưng như tình thường tham sống sợ chết, sao như chim bay cao cá lặn sâu, chỉ có lòng muốn sống mà thôi, huống nữa là con người ư. Nếu thiên hạ không nơi bất tử và xưa nay không có người bất tử, kẻ hiểu lẽ đó, chỉ có Phật mà thôi. Còn con người ai có thể làm được. Tệ ấp của cô cách xa thiên triều quan san vạn dặm. Tướng công thực đã biết đủ rồi. Giá như cô đem cái thân yếu đuối bé nhỏ này, gắng gượng mà ra đi đợt này thì việc không tử vong trên đường sá là hiếm lắm. Mà việc tử vong của cô đây cố nhiên là không đáng xót. Song nó không làm thương tổn được lòng nhân yêu người, yêu vật của thánh triều ư? Sách nói, vua là trời. Việc thờ vua của cô đây còn hơn cả việc thờ trời. Trời không có bực mà lên, nhưng còn có thể nhờ sớm tối để mà đối so. Vua không có bực để mà gần, nhưng có thể nhờ sớm tối mà hướng mộ. Cô nếu không tự lượng lực mà ra đi, thì còn muốn cầu đối so hướng mộ được ư? Cô mượn lẽ của người xưa, nói năng không kiêng kỡ, lòng dạ như đã giãi bày, mong nhờ tướng công tạm vì cô mà nghĩ kỹ cho muôn một, chớ tiếp lời dại. Thư không hết lời. </span></div>
<div></div>
<div><span>Viết vào ngày 21 tháng 2 năm Chí Nguyên thứ 30 (1293). </span></div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong><span>16</span></strong></div>
<div><strong><em>Thư ngày 25 tháng 2 năm Chí Nguyên thứ 30 (1293).</em></strong></div>
<div></div>
<div><span>Cô tử viết thư đáp lại thiên sứ đại tướng quân các hạ. Cô bất tiếu, cúi mong không bị chê quê, nhiều lần được ban thơ từ, tình nhiều, thương lắm. Nhiều lần nhọc nhằn ban thơ, lời lẽ phong phú, tình nghĩa dạt dào, thương yêu quá hơn cốt nhục, thân thiết như cố nhân. Ý khăng khăng, dám không phơi hết lòng dạ để tỏ tình trong muôn một. </span></div>
<div></div>
<div>Còn một việc đến chầu, thì cô chịu tội vậy. Bởi vì cậy vào lòng nhân của thánh triều như trời đất, mỗi mỗi trình xin lòng thương xót. Tướng công đã thật biết rồi, không cần nói thêm nữa. Về sự vinh dự của người thần tử được vào chầu, thì cô há không muốn. Chỉ nếu đem con đi thì khốn nỗi miệng nó còn hôi sữa, gân cốt chưa cứng cáp, không tập cưỡi ngựa, không quen gió sương, trên đường sá sẽ thấy như thế nào. Cô đây tuổi đã quá 30 mà còn lo không giữ được thân này, huống chi là đứa con mọn ấy. Nếu đem việc cũ của Anh Tề mà xét xem thì lại làm cho tội cô đây thêm nặng</div>
<div></div>
<div><span>Về tướng tá của quan quân, hoặc có kẻ còn rơi sót lại nơi tệ ấp, thì cha của cô ngày còn sống, đã tìm kiếm hết thảy như bộ thuộc của đại vương Tích Lệ Cơ, già trẻ của Ô Mã Nhi và Phàn tham chính, Tôn Lộ Man, Hà phụng ngự, Đường Ngột Công, Cát La Thị, Đường Vạn Hộ, Hồ Anh, Quách Toàn và bọn vạn hộ, thiên hộ đầu mục quan quân&#8230; đều đã theo nhau thứ lớp đưa về xong. Kỳ dư, hoặc có kẻ gặp lam chướng mà chết, hoặc đã trốn về, thì cô không biết được. Trương thượng thư ngày đến cũng đã nói tới điều này. Cô đã tìm hỏi các nơi thôn xóm, tới nay chưa có được tin tức gì. Cô há có tiếc mấy người này để nỡ bỏ sinh linh một phương. Vả lại, sở dĩ việc cô đưa trở về, ấy quả có lệnh của triều đình, chứ đâu phải cô tự làm sao? Còn họ ở đây thì chỉ chuốc lấy tốn kém, phí dụng, chứ có ích gì đâu. </span></div>
<div></div>
<div><span>Cô từ sau khi cha mất đi, đã ăn chay, tụng kinh, phóng sanh vật mạng, còn lo không đủ để báo ơn cha trong muôn một. Huống nữa là có việc bỏ tù hay giết hại tướng tá của thiên triều, để lụy tới cha mình ở dưới đất sao. Tướng công tuy đem điều đó ra dặn dò, cô vẫn không đợi nói hết. </span></div>
<div></div>
<div><span>Còn việc xâm lược biên giới, lời đó càng không đáng tin. Kinh Thi nói:<em> “Khắp dưới gầm trời đâu chẳng đất vua. Đem hết bờ cõi đâu chẳng tôi vua”.</em> Tiểu quốc tuy nằm ở một xó, cũng là đất bề tôi của đại quốc. Mấy năm gần đây mới gặp binh họa, trăm họ tử vong, ruộng đất bỏ phế. Tướng công đã tận mắt thấy rồi. Nay đất của tệ ấp mười nhà thì chín nhà đã trống. Thế chưa đủ sao? Sao rảnh mà đi lấy thêm chỗ khác ư. Nay đem việc tiểu quốc thành sự đại quốc, chỉ biết lo sợ, còn e không giữ được, sao dám sanh lòng kiêu căng ấy ư. Gần đây, thiên sứ qua lại nhiều lần, tới đến tiểu quốc. Việc đón đưa ở Lục châu, tiểu quốc sợ tội xâm vượt biên giới, nên luôn tránh đi, chỉ dừng ở Khâu Ôn mà thôi. Lời cô không tin, thì còn có các thiên sứ. Hiện nay, lời tướng công có bảo phải trả lại biên giới. Lời nói ra làm thần rất sợ hãi. Cô vốn không có ý xâm lược biên giới, mà lại dám có lời trả lại biên giới ư? Như tướng công đã bảo, thì cô cũng sẽ răn ước đám dân biên giới chớ sinh sự bậy, để thể hiện lòng thành thờ trời của cô. </span></div>
<div></div>
<div><span>Vật là để tỏ lòng thành. <em>Tả truyện</em> có việc dâng rau cần. <em>Kinh Thi</em> có rau khe suối bãi bờ, rau tần, rau tảo, đồ nơm, đồ sọt, nước huỳnh, nước lạo, có thể dâng quỷ thần, có thể đãi vương công,<sup> (<a title="" name="_ftnref1" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn1"></a><sup>[1]</sup>)</sup> Ấy là bởi tại lòng thành, chứ không phải tại vật. Cô ở xó bên ngoài đất viêm hoang, xa cách mặt trời. Thế mà sở dĩ tỏ rõ lòng thành của mình, ấy là tại ở thổ sản mà thôi. Nay tướng công cho đó là hư dối, không đủ để thể hiện lòng thành thờ vua thì cô sắp lấy gì để gửi tấm lòng mình ư? Có chỗ để gửi tấm lòng thành của mình mà còn không thể khỏi tội lệ. Nữa là không có chỗ mà gửi lòng thành thì tội lệ đó sẽ như thế nào. </span></div>
<div></div>
<div><span>Bài Thái tần: </span></div>
<div></div>
<div><span><em>Vu dĩ thái tần</em></span></div>
<div><em>Nam giản chi tân</em></div>
<div><em>Vu dĩ thái tảo</em></div>
<div><em>Vu bỉ hành lạo</em></div>
<div><em>Vu dĩ thinh chi</em></div>
<div><em>Duy khuông cập cữ</em></div>
<div><em>Vu bỉ Tương chi</em></div>
<div><em>Duy kỷ cập phủ.</em></div>
<div></div>
<div><span><span>Bài Thái phiền:</span></span></div>
<div></div>
<div><span><em><span>Vu dĩ thái phiền</span></em></span></div>
<div><em>Vu dĩ vu chỉ</em></div>
<div><em>Vu dĩ dụng chi</em></div>
<div><em>Công hậu chi thị</em></div>
<div><em>Vu dĩ thái phiền</em></div>
<div><em>Vu giản chi trung</em></div>
<div><em>Vu dĩ dụng chi</em></div>
<div><em>Công hậu chi công</em></div>
<div></div>
<div><span><span>Trộm nghĩ, thân cô đã không thể đến triều, mà con của cô lại không thể vào chầu. Cả nước kinh hoàng, chẳng biết làm gì, chỉ có đem hết tâm lực của mình, gửi lấy tánh mạng mình, gượng khiến một lão thần tâm phúc thay thế đến cửa trời mà giãi bày tội lỗi. Thế mà nay tướng công lại có lời là phải có một cận thần cốt nhục. Cô chưa biết xét người ấy là thế nào, hoặc là anh em chăng? hoặc là bà con chăng? hoặc là một lão thần tâm phúc chăng? Cô hư đốn, hoàng thiên không thương xót, nên anh em bà con đều là những kẻ chẳng biết gì, không thông xưa nay, không rõ thời sự. Giả sử lấy một người đưa đi lần này, thì không chỉ mắc tội với thiên triều, mà còn e di họa cho tiểu quốc. </span></span></div>
<div></div>
<div><span><span>Đó là đám trước đây, tướng công há không biết sao. Cô cho là anh em bà con, tiếng tuy là rất thân nhưng thực là kẻ thù; còn lão thần tâm phúc, tiếng tuy là bề tôi nhưng thật ra đó là cha con. Cô chưa biết ý tướng công, dùng danh ư, dùng thực ư? Nếu muốn dùng hư danh mà không dùng điều thực, thì không chỉ cô đây mắc lấy tội không thể hết tình, mà tướng công cũng có cái lụy là bỏ thật mà lấy dối. Lời nói này của cô chưa khỏi bị chê là xảo quyệt, trang sức, văn hoa, dối trá. Chỉ may mắn mong tướng công uyển chuyển rõ hết tấm lòng mà thương xót tha cho. </span></span></div>
<div></div>
<div>Cơ an nguy sống chết của cô đây lệ thuộc vào trong ba tấc lưỡi của tướng công. Những mong lấy ý thương xót cô và lòng che chở dân, đặc biệt uyển chuyển một lời, dâng tới tai trời, giãi bày nỗi niềm không nơi nương tựa của thân cô sáu thước, ý không đâu nói tỏ của dân một phương. Há không chỉ sinh linh một nước cô đây được vái lạy của ban của trời đất cha mẹ. Dầu tiên tổ phụ của thần nghe được ở dưới đất cũng bất giác tay múa chân nhảy lăm lăm mong báo lại, thì chỉ có một nén tâm hương dâng lên ở cõi u minh.</div>
<div></div>
<div><span><span>Thơ không nói hết. Viết vào ngày 15 tháng 2 năm Chí Nguyên thứ 30 (1293). </span></span></div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong>17</strong></div>
<div><strong><em>Thư ngày 1 tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 30 (1293).</em></strong></div>
<div></div>
<div><span><span>Cô viết thư đáp lại thiên sứ đại tướng công các hạ. Nay nép thấy nhọc nhằn xe hoa sứ tới, nhà thẹn tệ ấp tiêu điều, chẳng biết lấy gì để đãi người trưởng giả khi trở về. Mạo đem tí vật mọn để làm lễ tiễn. Thư đến khiêm nhượng từ chối, tình các hạ thật cao, còn lễ thế nào thì cô kính cẩn, giao phó cho sứ thần bản quốc đem tới, mong được nhận lãnh. Nếu mong đáp được chút tình, ấy là tại lòng chứ không phải tại vật. Kính đưa thư đáp này. Tha thiết mong được xem xét, suy nghĩ. Thư không nói hết lời. </span></span></div>
<div></div>
<div><span><span>Viết vào ngày mùng 1 tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 30 (1293). </span></span></div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong><span><span>18</span></span></strong></div>
<div></div>
<div><span><span>Nguyên nước An Nam dâng bài ca Vạn thọ cùng biểu và tấu. </span></span></div>
<div><em>            </em></div>
<div><em>Trời ban cho vua.</em></div>
<div><em>Vua ban xuống dân.</em></div>
<div><em>Thần chúc thánh thọ</em></div>
<div><em>Ức vạn năm xuân.</em></div>
<div>
<div><span><br clear="all" /><br />
</span></div>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<div id="ftn1">
<div></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[1] Những chữ Hán dùng trong câu này lấy từ hai bài thơ Thái tần và Thái phiền trong thiên Quốc phong của Kinh Thi để nói về vật mọn có thể dùng đãi công hầu và cúng quỉ thần.</span></div>
<div></div>
</div>
</div>
</div>
<div class="clear"></div>
</div>
<div id="page-27" class="tab-content-small">
<div class="text">
<div><strong>19</strong></div>
<div><strong><em>Tờ biểu ngày 4 tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 30 (1293).</em></strong></div>
<div></div>
<div><span><span>Ngày lành tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 30, bề tôi nước An Nam là Trần Nhật Tôn trăm vái, dâng lời của bề tôi Nhật Tôn: </span></span></div>
<div><span><span>Kính nghĩ, tuổi vua ức vạn, sánh tám ngàn năm xuân thu mới tới, đất Hạ đôi ba, ngang với năm trăm dặm đất miền hoang ngoài cõi. Khắp trời mừng vui, từ xưa chưa nghe tới. Bề tôi Nhật Tôn thật mừng, thật vui, cúi đầu, cúi đầu kính nghĩ Hiến Thiên Thuật Đạo Nhân Văn Nghĩa Vũ Đại Quang Hiếu hoàng đế bệ hạ thông minh sánh trời, trí dũng thiên phú, vì một giận mà yên thiên hạ, đem năm phước ban tới thứ dân, lấy trọn bốn phương, là việc từ Hán Đường chưa từng có. Thế mà không bỏ sót tiểu quốc, đem tấm lòng Nghiêu Thuấn ra dùng, có bắt thì có tha, được danh tất được thọ. </span></span></div>
<div></div>
<div><span><span>Bề tôi Nhật Tôn, đất nam ngồi giếng, mặt bắc ngóng sao, ba mươi năm chăm chăm khuyển mã, một tấc lòng rực rỡ trời cao, cúi bày gương vàng, luống mong cửa khuyết xem soi, xa dâng chén ngọc, sâu trông cửa ngọc đóng cất. </span></span></div>
<div></div>
<div><span><span>Bề tôi Nhật Tôn kính cẩn trai giới tắm gội, tự chính mình soạn viết bài tụng vạn thọ một chương, viết vào sách vàng, để vào hòm vàng, sai bồi thần Đào Tử Kỳ,&#8230; đem biểu mừng ca để tâu. Bề tôi Trần Nhật Tôn đâu dám nhìn trời trông thánh, cảm kích thiết tha, khôn xiết hãi hùng, thật vui thật mừng, cúi đầu cúi đầu kính nói. </span></span></div>
<div></div>
<div><span><span>Ngày mùng 4 tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 30, bề tôi nước An Nam Trần Nhật Tôn dâng biểu. </span></span></div>
<div><span> </span></div>
<div></div>
<div><strong><span><span>20</span></span></strong></div>
<div>
<p><strong><span><em><span>Tờ tâu ngày 4 tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 30 (l293).</span></em></span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
</div>
<div></div>
<div><span><span>Bề tôi nước An Nam là Trần Nhật Tôn kính cẩn quên chết cúi đầu trăm vái dâng lời: </span></span></div>
<div><span><span>Thần ngày 14 tháng giêng năm nay nép thấy thiên sứ thượng thư bộ lại Lương Tăng, lang trung bộ lễ Trần Phu vâng đem chiếu trời xuống tới hạ quốc. Thần, Nhật Tôn, kính cẩn đem tôn tộc quan lại nhanh chóng ra đường đốt hương nghênh đón, rồi khi tới lối trải thảm, ba lần đốt hương cung nghênh, trăm vái quì đọc chiếu trời, nói rằng: <em>“Tội lỗi nước ngươi nay đã tự giãi bày. Trẫm lại có lời gì. Bậc thánh thiên tử rộng rãi khoan hồng.”</em> </span></span></div>
<div></div>
<div><span><span>Như thế, bọn thần Nhật Tôn khôn xiết vui mừng, rất là hớn hở, tự bảo tội lỗi đầy trời của cha con thần mấy chục năm, đến ngày hôm nay đều được xóa sạch. Kẻ còn người mất thảy đều vái trời cha đất mẹ đã ban cho cái ơn sống lại. </span></span></div>
<div></div>
<div><span><span>Song, trong đó còn nói đến các loài có sự sống thì có loài nào an toàn mãi mãi cả đâu, thiên hạ có đất bất tử đâu.Thần, Nhật Tôn vẫn biết rằng xưa nay không có người bất tử, thiên hạ không có đất bất tử. Nhưng chỗ cậy là có trời hiếu sanh. Thánh thiên tử lấy trời làm lòng mình, thì tất phải thương kẻ côi mòn, lấy lòng nhân mà xem mọi người cùng như nhau. Thì tiểu quốc có thể trường cửu, có thể an toàn, có thể bất tử. Nếu không thế thì đi đâu chẳng phải là đất chết ư. </span></span></div>
<div></div>
<div><span><span>Chiếu trời lại nói: <em>“Chỉ đem văn dối đồ cống hàng năm, khéo giả để lừa, thì đạo nghĩa ở đâu.”</em> Thần, Nhật Tôn, nép đọc đến đây hồn xiêu phách tán, gan ruột rã rời, tuy sống mà như đã chết, tuy còn mà như đã mất. Thần, Nhật Tôn, thân này bất hạnh chẳng gì lớn hơn, đã không sinh ra nơi triều đình của thiên tử, lại không thể đến sân thiên tử. Cái để tỏ được lòng thành của mình thì ở thổ sản mà thôi. Thần, Nhật Tôn, há không biết là thánh triều bao phủ cả gầm trời, trèo núi vượt biển đi tới muôn phương. Đồ cống trân quí, chẳng món gì là không có, thì sao phải chỉ chăm chăm một mình tiểu quốc dâng hiến ư? Song, thần, Nhật Tôn, còn không xét đến tội mình mà lại làm việc mạo muội đó, thì thật là vì đạo nghĩa thờ vua có chỗ không thể bỏ được. Trong chiếu trời tuy có hỏi đạo nghĩa ở đâu, thì ở tại thần hạ. Thần hạ dám bỏ được chức cống hay sao. </span></span></div>
<div><span> </span></div>
<div><span><span>Nép mong hoàng đế bệ hạ với lòng cha mẹ, với lượng càn khôn, bao chứa đồ dơ, riêng ban lòng thương, nghĩ đến ông nội của thần là bề tôi Quang Bính, lòng son qui thuận, hèn nhận sắc phong, để giúp cho thần Nhật Tôn nối được ơn xưa, lo làm chức cũng như cũ, trên để tỏ hết lòng thành thờ vua, dưới để hoàn thành chí nguyện tiên tổ. Há chỉ vi thần một thân được bảo toàn, tạm kéo dài được hơi tàn, mà cũng để cho sinh linh một phương cùng hưởng đức lớn hiếu sinh của trời đất, chăm chăm tốc thành khuyển mã. Thần, Nhật Tôn, tự bảo dù ngàn sống muôn chết, thân nát xương tan cũng không đủ báo đền ơn vua trong muôn một. Thần, Nhật Tôn, đâu dám cầu trời khấn thánh, khôn xiết quên chết, kính cẩn tâu bày.</span></span></div>
<div></div>
<div><span><span>Ngày mùng 4 tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 30 (1293). Bề tôi nước An Nam Trần Nhật Tôn tâu.</span></span></div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong><span>21</span></strong></div>
<div>
<p><strong><span><em>Tờ biểu năm Nguyên Trinh thứ nhất (1295)</em></span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
</div>
<div></div>
<div><span>Năm Nguyên Trinh thứ nhất, thế tử An Nam, Trần, dâng biểu mừng hoàng đế Thành Tông lên ngôi.</span></div>
<div></div>
<div><span>Rồng bay chín lớp, trên ngôi rồng trở lại trời xuân. Ngựa ruổi ngàn non, trước cửa ngọc kính dâng biểu tạ. Một người có phúc, muôn nước đều yên. Kính nghĩ, hoàng đế bệ hạ văn trị ngời sáng bên trong, lòng nhân bay khắp hải ngoại, xa thương gần mến, thường giữ đạo để làm lòng, dẹp võ dụng văn, cất khí giới mà không đánh, quyết mở rộng lòng lành thăm thẳm của vua ta, muốn sáng tỏ công lao rực rỡ của tiên tổ. Dẹp sấm sét để ra ơn mưa móc, cắt đất phong để tỏ lượng càn khôn, cùng dân đổi mới, theo vật gầy xuân.</span></div>
<div></div>
<div><span>Bọn thần may mắn gặp thời sáng sủa, mừng vui nghe lịnh sâu xa. Trông trời bắc khuyết, lòng xiêu theo sao Bắc cực ngôi cao, giữ đất Nam hoang, nguyện chúc vua Nam Sơn thượng thọ.</span></div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong><span>22</span></strong></div>
<div>
<p><strong><span><em>Tờ biểu xin Đại Tạng kinh</em></span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
</div>
<div></div>
<div><span>Họ Trần nước An Nam dâng biểu xin Đại Tạng kinh:</span></div>
<div><span>Thần ở Viêm hoang, lâu theo đấng Giác, mãi nhớ bối diệp, truyền tự Trung Hoa. Vào thời Đường Tống, từng có ngựa trắng chở sang. Ngày đại binh kéo đến thì đã hóa nên tro tàn. Thở than chẳng thấy văn kinh, ý sâu rốt cuộc khó tìm, như vào nhà tối mà không đuốc tuệ, như vượt bể khổ mà thiếu thuyền từ. Nghĩ đến tiểu quốc thiếu kinh Đại Tạng, nếu không cầu thỉnh ở thượng quốc, thì lấy đâu mở lối cho quần sinh.</span></div>
<div></div>
<div><span>Kính nghĩ, hoàng đế bệ hạ là vua Nghiêu Thuấn đương thời, là Phật Thích Ca tái thế, lấy sự độ người giúp vật làm tâm, cho việc rộng ban cứu chúng là lòng. Tiếng ngọc may không giữ kín, tạng báu mong được mở toang. Từ trời mà xuống, ban cho một vạn năm trăm ngàn hơn cuốn kinh, vượt biển về nam, cứu ức triệu người dân khốn khổ. Công đức ấy hơn công đức trước, quảng đại vô biên. Thánh nhân nay là thánh nhân xưa, lưu truyền có thế.</span></div>
<div></div>
<div style="text-align: center;">••••</div>
<div><span> </span></div>
</div>
<div class="clear"></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://trannhantong.net/2013/03/van-thu-ngoai-giao-tran-nhan-tong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Trần Nhân Tông xuất gia</title>
		<link>http://trannhantong.net/2013/03/tran-nhan-tong-xuat-gia/</link>
		<comments>http://trannhantong.net/2013/03/tran-nhan-tong-xuat-gia/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 17 Mar 2013 14:13:26 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thiền phái Trúc Lâm]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://trannhantong.net/?p=1034</guid>
		<description><![CDATA[Khi cuộc đấu tranh để bảo vệ hòa bình và gây dựng cuộc sống ấm no đang trên đà phát triển tốt đẹp thì vua Trần Nhân Tông đã giao lại quyền bính cho con mình là Trần Anh Tông từ tháng 3 năm Qúy Tỵ (1293). Đến tháng 7 năm Giáp Ngọ (1294), Thượng hoàng đi chơi Vũ Lâm và quyết định xuất gia ở đấy, như ĐVSKTT 6 tờ 2b2-4 đã ghi: “Bấy giờ Thượng hoàng đến Vũ [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div id="page-1112" class="tab-content-small" style="display: block;">
<div class="text">
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Khi cuộc đấu tranh để bảo vệ hòa bình và gây dựng cuộc sống ấm no đang trên đà phát triển tốt đẹp thì vua Trần Nhân Tông đã giao lại quyền bính cho con mình là Trần Anh Tông từ tháng 3 năm Qúy Tỵ (1293). Đến tháng 7 năm Giáp Ngọ (1294), Thượng hoàng đi chơi Vũ Lâm và quyết định xuất gia ở đấy, như <em>ĐVSKTT</em> 6 tờ 2b2-4 đã ghi: <em>“Bấy giờ Thượng hoàng đến Vũ Lâm, vào chơi hang đá. Cửa núi đá hẹp. Thượng hoàng ngự chiếc thuyền nhỏ, thái hậu Tuyên Tư ở đuôi thuyền, gọi Văn Túc Vương lên mũi thuyền, chỉ cho một phu chèo thuyền thôi. Đến khi xuất gia, lúc xe vua sắp ra, cho mời Văn Túc vào điện Dưỡng đức cung Thánh Từ ngồi ăn các món hải vị”.</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Vậy thì vào năm Giáp Ngọ (1294) vua Trần Nhân Tông đã xuất gia. <em>Khâm định Việt sử thông giám cương mục </em>8 tờ 23b1 chép việc xuất gia này vào tháng 6 năm Ất Mùi (1295), sau khi Thượng hoàng đã đi chinh phạt Ai Lao trở về: <em>“Thượng hoàng từ Ai Lao trở về, xuất gia ở hành cung Vũ Lâm, rồi bỗng trở lại kinh sư.” Cương mục</em> như thế, muốn sau khi Thượng hoàng xuất gia, thì không có chuyện cầm quân đi đánh giặc. Tuy nhiên, ta sẽ thấy, sau khi xuất gia, Thượng hoàng có nhiều hoạt động vì dân vì nước. Và những quyết sách của triều đình thường phải đến thỉnh thị ý kiến của Thượng hoàng. Thí dụ điển hình là việc Đoàn Nhữ Hài trước khi đi sứ Chiêm Thành đã tới chờ Thượng hoàng cả ngày tại chùa Sùng Nghiêm ở Chí Linh. Sự kiện Thượng hoàng xuất gia tại núi Vũ Lâm, như thế, đã xảy ra vào năm 1294, như <em>ĐVSKTT</em> cho biết.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;"> </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><strong><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Vũ Lâm và điện Thái Vi</span></span></span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;">
<p>&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Vũ Lâm là một trong những thung lũng đẹp thuộc xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh bình ngày nay. Phía đông thung lũng là con sông Ngô Đồng chảy ngang, còn ba phía tây, nam, bắc đều do các núi đá vôi bao bọc. Hiện còn điện Thái Vi thờ vua Trần Thái Tông, vua Trần Thánh Tông và Hoàng thái hậu Hiếu Từ. Điều này chứng tỏ điện Thái Vi do chính vua Trần Nhân Tông dựng nên để thờ ông, cha và mẹ mình. Ba tấm bia hiện còn đọc được tại điện này xác định việc đó.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Tấm bia thứ nhất có tên <em>Tu tạo Thái Vi cung thần từ thạch b</em>i viết vào ngày 10 tháng 3 năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1715) do dân làng cùng quan viên, hương trưởng của hai giáp Trung và Cật xã Ô Lâm dựng sau khi đã sửa điện xong: <em>“Vào tháng 8 mùa thu năm Giáp Ngọ (1715) dân hai giáp Trung và Cật xã Ô Lâm thấy điện báu nguy nga của triều trước nay đổ nát hư hỏng, bèn dốc lòng cùng nhau sửa chữa (&#8230;)</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Điện báu Thái vi </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Dấu xưa lưu truyền </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Triều Trần thánh tổ </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Nhiều đời chuộng thiền </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Khuông phò thế nước </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Giúp giữ dân yên </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;"> </span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">(Thái Vi điện bảo </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Cổ tích lưu thông </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Trần triều thánh tổ </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Lịch đại tu sùng </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Khuông phù quốc thế </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Bảo hựu dân trung…)</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Tấm bia thứ hai cũng do hai giáp Trung và Cật xã Ô Lâm dựng vào năm ấy nhưng sau sáu tháng và có cùng tên, ghi công đức những người đã đóng góp công sửa chữa điện. Hai tấm bia này chỉ khắc hai mặt trước và sau. Còn tấm bia thứ ba thì khắc bốn mặt. Ba mặt ghi công đức. Mặt thứ tư có tên <em>Tu lý Thái Vi điện bi ký</em> ghi rõ là điện này dựng vào năm Bảo Phù nhà Trần, tức những năm 1273 &#8211; 1278 và sau đó được liên tục sửa chữa vào những năm Quang Hưng Kỷ Sửu (1598) và Bảo Đại Bính Dần (1926). Tấm bia này được khắc vào lần sửa chữa cuối vừa nói.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Qua bài khắc vào năm Bảo Đại Bính Dần, ta biết điện Thái vi dựng nên vào những năm Bảo Phù. Điều này có nghĩa vua Trần Nhân Tông trước khi lên ngôi vào tháng 10 năm Bảo Phù Mậu Dần (1278) đã biết tới Vũ Lâm. Rồi sau đó, trong cuộc chiến tranh 1285, khi vua phải chỉ huy tập đoàn quân phía nam nhằm chặn đứng những cuộc tấn công của Thoát Hoan từ phía bắc xuống và của Toa Đô từ phía nam lên, có thể vua đã chọn đây làm tổng hành dinh của mình để thực hiện những cuộc họp khẩn cấp và chớp nhoáng, cùng với các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, v.vỢ quyết định các phương lược phòng thủ và phản công. Vũ Lâm do nằm trong vùng Hoa Lư, nên chắc hẳn đã có một địa hình chiến lược. Không những thế, cảnh vật ở đây có một vẻ đẹp hấp dẫn lạ kỳ, như vua đã biểu lộ trong một bài thơ về Vũ Lâm:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Lòng khe vắt ngược bóng cầu hoa </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Hắt sáng ngoài khe vệt nắng tà </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Lặng lẻ nghìn non rơi lá đỏ </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Như mơ mây đẫm tiếng chuông xa </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;">(Họa kiều đảo ảnh trám khê hoành</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Nhất mạt tà dương thủy ngoại minh </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Tịch tịch thiên sơn hồng diệp lạc </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Thấp vân như mộng viễn chung thanh)</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;"> </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><strong><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Tuệ Trung và Thượng hoàng</span></span></span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;">
<p>&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Vũ Lâm có một vẻ đẹp như vậy, tới thời điểm ấy, vua Trần Nhân Tông đã chọn nơi đây làm chốn xuất gia của mình. Lễ xuất gia như thế nào và ai đứng làm chủ lễ, ngày nay ta không được biết. Nhưng căn cứ <em>Thánh đăng ngữ lục</em>, Trần Nhân Tông đã <em>“tham học với Tuệ Trung Thượng Sĩ, sâu được cốt kỷ của thiền, nên thường lấy lễ thầy mà thờ”</em>. Vậy, người truyền tâm ấn cho Thượng hoàng Nhân Tông không ai khác hơn là Tuệ Trung Thượng Sĩ, danh tướng đã giải phóng Thăng Long trong cuộc chiến vệ quốc năm 1285 và người đã đi điều đình với giặc ở căn cứ Vạn Kiếp, để cho quân ta có cơ hội tấn công chúng.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Vua Trần Nhân Tông lúc còn trẻ đã có sự giáo dục đầy đủ về nhiều loại tri thức khác nhau của thời mình. Và xuất phát từ truyền thống gia đình, vua đã sớm tiếp xúc với giáo lý Phật giáo. Nhưng như chính một bài thơ sau này đã xác nhận, vua cảm thấy mình chưa thâm nhập giáo lý Phật giáo nhiều: </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;"> </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Niên thiếu hà tằng liễu sắc không </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Nhất xuân tâm tại bách hoa trung </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Như kim khám phá đông hoàng diện </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">(Tuổi trẻ sao từng hiểu sắc không</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Cả xuân hoa nở ngất ngây lòng </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Đến nay rõ được mặt xuân ấy </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Nệm cỏ giường thiền ngắm rụng hồng).</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Khi Tuệ Trung Trần Quốc Tung mất, vua Trần Nhân Tông đã viết tiểu sử của vị thầy đồng thời cũng là ông bác của mình. Nhân lúc viết tiểu sử ấy, vua Trần Nhân Tông đã kể lại kinh nghiệm ngộ đạo của mình như sau: <em>“Trước đây khi ta chưa xuất gia, gặp lúc cư tang Nguyên Thánh mẫu hậu, nhân đó đi mời Thượng Sĩ. Người trao cho hai bộ Ngữ lục của Tuyết Đậu và Dã Hiên. Ta thấy Thượng Sĩ sống rất thế tục, nên sinh ngờ vực, bèn giả bộ ngây thơ lén hỏi: ‘Chúng sinh quen nghiệp uống rượu ăn thịt, thì làm sao tránh được tội báo’. Thượng Sĩ giải rõ: ‘Giả như có người đứng quay lưng lại, bỗng có nhà vua đi qua sau lưng, người kia bất ngờ ném một vật gì đó trúng vào người vua. Người ấy có sợ chăng? Vua có giận chăng? Như vậy phải biết hai việc không liên quan với nhau’. Bèn mới viết hai bài kệ để chứng tỏ:</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Vô thường các pháp hành </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Lòng nghi, tội liền sanh </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Xưa nay không một vật </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Chẳng giống cũng chẳng mầm</span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Lại nói:</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Ngày ngày khi đối cảnh </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Cảnh cảnh từ tâm ra </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Tâm cảnh xưa nay chẳng </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Chốn chốn đều ba la</span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Ta hiểu ý, chặp lâu mới nói: ‘Tuy là như thế, nhưng tội phước đã rõ thì làm sao’. Thượng Sĩ lại đọc tiếp bài kệ để chỉ bảo: </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Ăn cỏ với ăn thịt </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Chúng sinh mỗi có thức </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Xuân đến trăm cỏ sinh </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Chỗ nào thấy họa phúc</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Ta nói: ‘Chỉ như thế thì công phu giữ sạch phạm hạnh không chút xao nhãng để làm gì’. Thượng Sĩ chỉ cười mà không đáp. Ta lại thỉnh ích, Thượng Sĩ lại làm thành hai bài kệ, để ấn chứng cho ta:</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Trì giới với nhẫn nhục </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Chuốc tội chẳng chuốc phúc </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Muốn biết không tội phúc </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Chẳng trì giới nhẫn nhục</span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Lại nói:</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Như người lúc leo cây </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Đang yên tự tìm nguy </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Như người không leo nữa </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Trăng gió làm việc gì.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Lại kín đáo dặn ta: ‘Chớ bảo cho người không đáng’”. </span></span></span></p>
</div>
<div class="clear"></div>
</div>
<div id="page-1113" class="tab-content-small">
<div class="text">
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Quá trình học tập và chứng ngộ Phật giáo dưới sự hướng dẫn của Tuệ Trung Trần Quốc Tung do chính vua Trần Nhân Tông kể lại là như thế. Qua lời kể này, ta thấy hai tác phẩm thiền, mà Tuệ Trung đã giao cho vua đọc. Đó là <em>Tuyết Đậu ngữ lục </em>và<em> Dã Hiên ngữ lục</em>. Bộ ngữ lục của Dã Hiên ngày nay đã mất, và tên tuổi ông không thấy chép trong các tác phẩm thiền Trung Quốc. Chỉ có một bài thơ được ghi lại trong <em>Thiền tông tụng cổ liên châu thông</em> tập 21, tờ 128c5-6 (256a5-6). Do thế, Dã Hiên có khả năng sống vào khoảng những năm 900 -1050. Thiền sư Tuyết Đậu chính là Minh Giác Trùng Hiển (980-1052), sống tại núi Tuyết Đậu của Ninh Châu và là đệ tử của Trí Môn Quang Tộ thuộc dòng thiền Vân Môn ở Trung Quốc, và bộ ngữ lục của ông, tức <em>Tuyết Đậu minh giác ngữ lục</em>, rất phổ biến vào thời trước cũng như ngày nay. T<em>hánh đăng ngữ lục</em> ghi lại mấy lần việc giảng <em>Tuyết Đậu ngữ lục</em> tại các thiền đường Việt </span></span></span><span style="font-size: 10.0pt; mso-bidi-font-size: 11.0pt; line-height: 115%; font-family: 'Arial','sans-serif';"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;">Nam</span></span><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"> sau thời vua Trần Nhân Tông.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;">Cũng chính qua đoạn văn trên ta biết thời điểm chứng ngộ của vua, đó là vào mùa xuân năm Đinh Hợi (1287), khi cả nước đang rầm rộ chuẩn bị lực lượng về mọi mặt để đối phó với cuộc xâm lược lần thứ ba của quân Nguyên và đó là lúc Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu mất, như </span><em style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;">ĐVSKTT</em><span style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;"> 5 tờ 51b5 đã ghi. Nhân lúc mẹ mình mất, vua Trần Nhân Tông đã đến mời người anh của mẹ là Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Quốc Tung đến dự tang. Vào dịp ấy, đã xảy ra cuộc đối thoại giữa hai người, mà ta vừa dẫn trên, và do chính vua Trần Nhân Tông ghi lại. Tuệ Trung đã ấn chứng cho vua Trần Nhân Tông trong cuộc đối thoại đó.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Cũng qua cuộc đối thoại ấy, ta thấy cơ sở tư tưởng của Trần Nhân Tông đã hình thành, mà sau này vua đã viết thành văn bản bằng tiếng Việt trong <em>Cư trần lạc đạo phú</em>, làm chỉ nam cho sự phát triển của Phật giáo ít lắm cũng kéo dài tới gần bốn trăm năm sau, tức từ khoảng 1300 cho đến 1695. Đây là một giai đoạn Phật giáo hoàn toàn thế tục, không có sự cách biệt giữa các giới tại gia và xuất gia. Họ sống hòa mình với nhau, thậm chí trong một con người, mà điển hình là Hương Chân Pháp Tính (1470-1550?), Thọ Tiên Diển Khánh (1550-1610?) và Minh Châu Hương Hải (1628-1715). Họ từng là những người đỗ đạt, gánh vác việc nước việc dân, rồi sau đó giống như vua Trần Nhân Tông, họ đã sống đời một vị xuất gia, như Pháp Tính đã diễn tả qua hai câu thơ của mình:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Trẻ từng vả đứng khoa danh</span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Già lên cõi thọ tìm duềnh Bụt tiên</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Cơ sở tư tưởng phát biểu trong đoạn văn trên ta cần phải chú ý, khi đề cập đến nền Thiền học của trường phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông gầy dựng. Dù đã xuất gia vào tháng 7, tháng 8 năm ấy Thượng hoàng phải cầm quân đi đánh Ai Lao, như ĐVSKTT 6 tờ 3a1-3 đã chép: “<em>Tháng 8</em> (năm Giáp Ngọ, 1294) <em>Thượng hoàng thân chinh Ai Lao, bắt sống người và súc vật không kể xiết. Trong chiến dịch này, Trung Thành Vương (thiếu tên) làm tiên phong, bị Ai Lao vây, Phạm Ngũ Lão chợt đem quân ập đến, liền giải vây. Nhân thế tung quân đón đánh. Giặc thua. Cho Ngũ Lão phù bằng vàng”. </em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;"> </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><strong><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Tiếp phái bộ Lý Hành &#8211; Tiêu Thái Đăng</span></span></span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;">
<p>&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Đến ngày mồng 1 tháng 2 năm sau, Thượng hoàng lại đứng ra tiếp phái bộ Lý Hành và Tiêu Thái Đăng do Nguyên Thành Tông lên ngôi gửi qua báo về việc bãi binh. Phái bộ này được gửi đi từ tháng 6 năm Chí Nguyên thứ 31 (1294), tức một tháng sau khi Thành Tông lên ngôi, và đến tháng 2 mới đến nước ta. Trong lời tiễn chân Lý Hành và Tiêu Thái Đăng, Trương Bá Thuần cho rằng đây là một chuyến đi khó khăn. <em>An </em></span></span></span><span style="font-size: 10.0pt; mso-bidi-font-size: 11.0pt; line-height: 115%; font-family: 'Arial','sans-serif';"><em><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;">Nam</span></span></em><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em> chí lược</em> ghi lại việc Trương Bá Thuần viết: <em>“Vì sao bảo là khó? Trước đây đem chỉ dụ đến nước ấy ai chẳng biết đem đại nghĩa vua tôi, cơ họa phúc lợi hại. Nước kia nếu đem lòng sợ ra để mà nghe thì lời nói dễ vào lỗ tai. Nếu nó không nghe thì cứ về báo lại vua, thế là ta đã xong việc ta, còn sử trí thế nào thì quốc gia đã có cách. Nay hai ông vượt mấy nghìn dặm, chỉ mang theo một bức thư, mà phải làm cho nước kia mở lòng tự đổi mới. Chứ nếu cứ vù vù ra đi, rồi vù vù trở về thì ai mà chẳng làm được, đâu cần đến bọn chúng ta. Huống nữa lòng người sau khi lo nhiều, bỗng thấy mình hết có lỗi, thì vui mừng khôn xiết. Nhưng mừng lại là mầm của khinh mạn. Ta nhân nỗi vui của chúng để khiến chúng bỏ lòng trì nghi không quyết để đi theo con đường mới”.</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Thế là khó khăn của phái bộ Lý Hành lần này là đằng sau những yêu sách của vua Nguyên không còn có một bạo lực để thi hành. Và do vì không có bạo lực này, chúng sợ bị Đại Việt khinh thường. Dẫu thế, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã tiếp đãi chúng ân cần, và chắc đây là một trong những cuộc đón tiếp ngoại giao mà Thượng hoàng ưng ý nhất, vì đã thành công, đè bẹp được ý chí xâm lược của kẻ thù, như bài thơ tiễn phái bộ này của Thượng hoàng đãợ thể hiện:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Phơi phới Linh Trì ấm tiễn đưa </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Người về khôn cách gió xuân ngừa </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Nào hay sao sứ hai ngôi phúc </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Sáng rọi trời </span></em></span></span><em><span style="font-size: 10.0pt; mso-bidi-font-size: 11.0pt; line-height: 115%; font-family: 'Arial','sans-serif';"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;">Nam</span></span></span></em><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;"> mấy tối mưa</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;">(Khảm khảm Linh Trì noãn tiễn diên</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Xuân phong vô kế trụ quy tiên </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;">Bất tri lưỡng điểm thiều tinh phúc</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Kỷ dạ quang mang chiếu Việt thiên).</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Khi phái bộ này trở vềò Thượng hoàng đã sai nội viên ngoại lang Trần Khắc Dụng và Phạm Thảo mang thư qua xin <em>Đại Tạng kin</em>h. Lá thư này hiện được chép lại trong <em>An </em></span></span></span><span style="font-size: 10.0pt; mso-bidi-font-size: 11.0pt; line-height: 115%; font-family: 'Arial','sans-serif';"><em><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;">Nam</span></span></em><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em> chí lược</em> 6 tờ 80 và Thượng hoàng vẫn đứng tên trong lá thư này. Cũng theo An </span></span><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;">Nam</span></span><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"> chí lược thì sau khi nhận được lá thư xin Đại Tạng kinh này, triều đình theo lệnh Nguyên Thành Tổ đã cấp cho ta. Đây có lẽ là bộ <em>Đại Tạng kinh</em> mà sau này Trần Anh Tông đã cho chép tác phẩm <em>Thạch thất</em> mỵ ngữ của Thượng hoàng Trần Nhân Tông vào để lưu hành, như Thánh đăng ngữ lục đã ghi:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Đến tháng 6 năm đó, <em>ĐVSKTT</em> 6 (1295) tờ 3a7-8 chép: <em>“Thượng hoàng trở về kinh sư, xuất gia ở hành cung Vũ Lâm, mà lại trở về vậy”.</em> Việc vua Trần Nhân Tông xuất gia ở Vũ Lâm, như vậy phải từ tháng 7 năm Giáp Ngọ (1294), tức hơn một năm sau khi đã truyền ngôi cho con mình. Khâm định Việt sử thông giám cương mục 8 tờ 23a7 &#8211; b1 dưới mục <em>“mùa hạ tháng 6 năm Ất Mùi (1295) Thượng hoàng về đến từ Ai Lao”</em> đã viết: <em>“Thượng hoàng từ Ai Lao về, xuất gia ở hành cung Vũ Lâm, bỗng chốc lại trở về kinh đô</em>”. Thế thì đối với Quốc sử quán triều Nguyễn, đến mùa hè năm Ất Mùi, vua Trần Nhân Tông mới xuất gia. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Tuy nhiên, về việc xuất gia ấy, <em>ĐVSKTT</em> 6 tờ 2b4-6 đã kể lại việc Thượng hoàng đi chơi Vũ Lâm vào mùa thu tháng 7 năm Giáp Ngọ (1294) và đã quyết định xuất gia ở đó, nhân thế đã ghi lại việc yêu quý người con của thái sư Trần Quang Khải là Trần Đạo Tải: <em>“Bấy giờ Thượng hoàng ngự đi Vũ Lâm dạo chơi hang đá. Cửa núi đá hẹp, Thượng hoàng đi chiếc thuyền nhỏ, thái hậu Tuyên Từ ở đằng đuôi thuyền, gọi Văn Túc Vương lên đằng mũi thuyền, chỉ cho một phu chèo thuyền mà thôi. Kịp đến khi Thượng hoàng xuất gia, khi Thượng hoàng sắp ra đi, bèn mời Đạo Tải vào điện Dưỡng Đức của cung Thánh Từ, ban cho ngồi ăn đồ biển, làm thơ rằng:</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Chân rùa bóc đỏ mọng </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Yên ngựa nướng vàng thơm </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Sơn tăng giữ giới sạch </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Cùng ngồi chẳng cùng ăn </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">(Hồng thấp bác quy cước </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Hoàng hương chá mã an </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Sơn tăng trì tịnh giời </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Đồng tọa bất đồng san).</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Sự kiện và bài thơ này, Hồ Nguyên Trừng cũng có chép trong </span></span></span><span style="font-size: 10.0pt; mso-bidi-font-size: 11.0pt; line-height: 115%; font-family: 'Arial','sans-serif';"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em>Nam</em></span></span><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em> Ông mộng lục.</em> Căn cứ vào cách viết của hai tài liệu đây, rõ ràng bài thơ vùa nêu là của Trần Nhân Tông. Hơn nữa, căn cứ vào nội dung, nhất là câu <em>‘sơn tăng trì tịnh giới</em>’, thì dứt khoát không thể là của Trần Đạo Tải viết. Trần Đạo Tải có một niềm kính trọng đặc biệt đối với Trần Nhân Tông và việc ông thấy vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia luôn đi bộ, đã thề suốt đời không bao giờ đi xe ngựa, thì không bao giờ Trần Đạo Tải dám gọi vua Trần Nhân Tông là ‘<em>sơn tăng</em>’ (ông sư núi). Chỉ vua Trần Nhân Tông mới tự gọi mình như thế, nhất là khi ta nhớ vua có một sự yêu thích đặc biệt đối với núi rừng, như nhiều bài thơ còn lại đã chứng tỏ. Thế mà ngày nay có một số người đã đem bài thơ này gán cho Trần Đạo Tải một cách sai lầm. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;"> </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><strong><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Thượng hoàng vào Yên Tử</span></span></span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;">
<p>&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;">Dù đã được ghi nhận là xuất gia ở Vũ Lâm sớm như thế, nhưng đối với </span><em style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;">Thánh Đăng ngữ lục</em><span style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;">, thì vua Trần Nhân Tông xuất gia vào </span><em style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;">“năm Kỷ Hợi Hưng Long thứ 7, tháng 10 bằng cách đi thẳng vào núi Yên Tử, siêng năng tu hành 12 hạnh đầu đà, tự gọi là Hương Vân Đại Đầu Đà, dựng Chi Đề tinh xá, mở pháp độ tăng, người học đến như mây”. </em><span style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;">Có khả năng từ tháng 6 năm Ất Mùi (1295) cho đến tháng 8 năm Kỷ Hợi (1299), Thượng hoàng đã thường ở Vũ Lâm, vì các tư liệu hiện có không ghi bất cứ một hoạt động nào về đạo cũng như đời của Thượng hoàng. Đây có thể là thời gian mà </span><em style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;">Thánh đăng ngữ lụ</em><span style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;">c ghi nhận là Thượng hoàng đang tu tập 12 hạnh đầu đà. Trong </span><em style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;">Vịnh Vân Yên tự phú,</em><span style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;"> trạng nguyên Lý Tải Đạo, lúc này đã trở thành thiền sư Huyền Quang và đang sống với Thượng hoàng ở Yên Tử, đã cho ta thấy cuộc sống hàng ngày của Hương Vân Đại Đầu Đà như thế nào:</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Mặc cà sa, nằm trướng giấy </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Màng chi châu đầy lẫm, ngọc đầy rương </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Quên ngọc thực, bỏ hương giao </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Cắp nạnh cà một vò tương một hũ.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Thật là một cuộc sống giản dị đến mức độ không ai ngờ tới của một vị anh hùng vừa mới chiến thắng oanh liệt kẻ thù và là một vị hoàng đế tài ba. Chỉ đến tháng 5 năm Kỷ Hợi, <em>ĐVSKT</em>T 6 tờ 6a1-b9 môữi ghi việc Thượng hoàng từ Thiên Trường về Thăng Long gặp vua Trần Anh Tông uống rượu say. Thượng hoàng đã đem tất cả triều đình về Thiên Trường. Đến khi tỉnh rượu, nhờ Đoàn Nhữ Hài thảo tờ biểu tạ tội, vua Trần Anh Tông đã cùng Nhữ Hài về Thiên Trường để ra mắt Thượng hoàng, rồi sau đó được tha thứ. Đến tháng 7 năm này, <em>ĐVSKTT</em> 6 tờ 7a6-7 ghi việc dựng am Ngự Dược ở núi Yên Tử. Và tiếp đó nó ghi: <em>“Tháng 8 Thượng hoàng từ phủ Thiên Trường lại xuất gia, vào núi Yên Tử khổ hạnh”</em>. Như thế đến tháng 8 Thượng hoàng lại xuất gia, chứ không phải là tháng 10 như Thánh đăng ngữ lục đã có.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Khi xuất gia rồi Thượng hoàng đã làm gì, Thánh đăng ngữ lục chép:<em> “Sau ở chùa Phổ Minh ý của phủ Thiên Trường, Thượng hoàng mời đến các danh tăng, mở lớn các trường giảng, trải mấy năm bèn vân du phương ngoại, đến trại Bố Chính, chọn am Tri Kiến để ở”.</em> Thực tế, sau khi chép việc Thượng hoàng vào núi Yên Tử tu khổ hạnh, <em>ĐVSKTT</em> 6 tờ 7a7-8a2 kể tiếp việc vua Trần Anh Tông đến chầu cùng với Quốc Công Trần Quốc Tuấn tại cung Trùng Quang và tránh được việc xăm rồng vào đùi cùng việc vua vi hành bị ném đá và bị Thượng hoàng hỏi. Đến tháng 3 năm Tân Sửu (1301) Thượng hoàng đi chơi các địa phương xa đến Chiêm Thành. Đến tháng 11 năm ấy mới từ Chiêm Thành trở về. Rồi rằm tháng giêng năm Quý Mão (1303) <em>“Thượng hoàng ở phủ Thiên Trường mở pháp hội Vô Lượng ở chùa Phổ Minh bố thí vàng bạc tiền lụa để chẩn cấp cho người nghèo trong thiên hạ và giảng kinh thí giới”</em>, như <em>ĐVSKTT </em>6 tờ 17a9b2.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Tất cả những tư liệu này cho thấy sau khi xuất gia lại một lần nữa tại Yên Tử, chắc Thượng hoàng ở đấy một thời gian. Đến tháng 3 năm Tân Sửu (1301), Thượng hoàng đi xuống phía Namvà ở tại am Tri Kiến của trại Bố Chính. Tri Kiến theo <em>Ô Châu cận lục</em> quyển 3 tờ 45a5 là nơi đóng cơ quan hành chính của trại Bố Chính: <em>“Tri Kiến là nơi dựng của huyện xưa”</em> (Tri Kiến cổ chi huyện kiến)1. Cho nên, am Tri Kiến chắc là ngôi chùa của lỡ sở Tri Kiến của Bố Chinh. Có thể nói đây là ngôi chùa đầu tiên được biết của vùng đất Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính, mà Lý Thánh Tông đã sát nhập vào bản đồ Đại Việt vào năm 1069 và nay là đất tỉnh Quảng Bình và hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh của Quảng Trị. Vùng đất này chắc hẳn có nhiều chùa khác nữa, nhưng ngày nay ta không biết tên tuổi. Rồi từ trại Bố Chính, Thượng hoàng đã đi sang Chiêm Thành. </span></span></span></p>
<p>&nbsp;</p>
</div>
<div class="clear"></div>
</div>
<div id="page-1114" class="tab-content-small">
<div class="text">
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Thượng hoàng đi Chiêm Thành</span></span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Việc đi Chiêm Thành này theo Trần Chí Chính trong lời đề từ cho bức tranh <em>Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ</em> có vẻ như là một cuộc vân du của một nhà truyền giáo và đã được vua Chiêm đón tiếp trong tư cách ấy. Trần Chí Chính viết: <em>“Có lúc ngài viễn du hóa độ cho các nước lân bang, phía nam đến tận Chiêm Thành, đã từng khất thực ở trong thành. Vua nước Chiêm Thành biết được điều đó, hết sức kính trọng thỉnh mời, dâng cúng trai lễ, sắp sẵn thuyền bè nghi trượng, thân hành tiễn ngài về nước và đem đất hai Châu làm lễ cúng dâng cho ngài. Ấy là Thần Châu, Hóa Châu nay vậy”.</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Tuy nhiên căn cứ trên quan hệ ngoại giao giữa Đại Việt và Chiêm Thành trong giai đoạn Thượng hoàng lãnh đạo đất nước Đại Việt, thí ta có thể chắc chắn vua Chiêm lúc ấy là Chế Mân đã nghe tiếng và có cảm tình khá đậm đà đối với Thượng hoàng. Ta đã thấy ở trên, khi cuộc chiến tranh Nguyên Chiêm xảy ra vào năm 1283 Thượng hoàng đã gửi chi viện cho nhà nước Chiêm 2 vạn quân và 500 chiến thuyền. Tất nhiên việc gửi quân này là nhằm lợi ích lâu dài của Đại Việt, nhưng trước mắt xương máu Đại Việt đã đổ ra một phần nào cho chiến thắng của quân dân Chiêm Thành. Chính ơn nghĩa này và những hành động xây đắp nền hòa bình hữu nghị Việt Chiêm khác đã tạo điều kiện cho vua Chiêm có một sự kính mến và hâm mộ đối với nhà lãnh đạo Đại Việt.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Quả vậy, sau khi mở pháp hội Vô Lượng tại chùa Phổ Minh của phủ Thiên Trường và bố thí vàng bạc tiền lụa cho những người nghèo khổ vào rằm tháng giêng năm Quý Mão (1303), ĐVSKTT 6 tờ 17b7-18b4 đã kể lại việc Đoàn Nhữ Hài trước khi đi sứ Chiêm Thành đã đến bái yết Thượng hoàng ở chùa Sùng Nghiêm núi Chí Linh. Đợi suốt ngày mà vẫn không gặp được. Đến khi pháp giá của Thượng hoàng ngự ra chơi, Nhữ Hài đã đến bái yết và thưa chuyện với Thượng hoàng trên hai tiếng đồng hồ. Nói chuyện xong Thượng hoàng trở về khen với các quan tả hữu <em>“Nhữ Hài thực là người giỏi, được quan gia sai khiến là phải”</em>. Chi tiết này cho ta thấy ngay khi không còn trực tiếp điều khiển đất nước, Thượng hoàng vẫn có một quan tâm đặc biệt đối với Chiêm Thành.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="line-height: 115%; font-size: 14px; font-family: arial;">Những sự việc xảy ra sau đó có liên quan đến Chiêm Thành đều xuất phát từ chuyến vân du vừa kể. Tháng 3 năm Giáp Thìn (1304), </span><em style="line-height: 115%; font-size: 14px; font-family: arial;">ĐVSKT</em><span style="line-height: 115%; font-size: 14px; font-family: arial;">T 6 tờ 19b1 chép chuyện một nhà sư tu theo phương pháp du già (yoga) của Chiêm Thành đến nước ta. Nét đặc biệt của vị sư này là chỉ uống sữa bò. Rồi tháng 2 năm Ất Tỵ (1305) </span><em style="line-height: 115%; font-size: 14px; font-family: arial;">ĐVSKTT</em><span style="line-height: 115%; font-size: 14px; font-family: arial;"> 6 tờ 20a3-6 chép việc </span><em style="line-height: 115%; font-size: 14px; font-family: arial;">“Chiêm Thành sai Chế Bồ Đài và bộ đảng hơn trăm người đem biểu dâng vàng bạc, hương quý, vật lạ để xin định lễ cầu hôn. Triều thần cho là không được. Riêng Văn Túc Vương Đạo Tải chủ trương việc nghị bàn, và Trần Khắc Chung tán thành, nên việc bàn mới quyết”.</em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Đến tháng 6 năm Bính Ngọ (1306), <em>ĐVSKT</em>T 6 tờ 21a8b1 lại ghi việc <em>“gả công chúa Huyền Trân cho chúa Chiêm Thành Chế Mân. Nguyên trước Thượng hoàng vân du đến Chiêm Thành đã trót hứa rồi. Văn nhân trong triều ngoài nội phần lớn mượn việc vua Hán đem Chiêu Quân gả cho Hung Nô, làm lời thơ quốc ngữ để mà chê cười”</em>. Đến mùa xuân tháng giêng năm sau, Đinh Mùi (1307) <em>ĐVSKTT</em> 6 tờ 22a7-b2 chép việc <em>“đổi 2 châu Ô, Lý làm Thuận Châu và Hóa Châu, sai hành khiển Đoàn Nhữ Hài đến ổn định dân chúng. Trước đó chúa Chiêm Thành là Chế Mân đem đất ấy làm vật dẫn cưới. Những người thôn La Thủy, Tác Hồng và Đà Bồng không chịụ. Vua sai Ngự Hài đến tuyên bố đức ý của triều đình, lựa chọn người bọn chúng bổ cho làm quan, đồng thời cấp ruộng đất miễn tô thuế 3 năm để vỗ về”.</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Năm Đinh Mùi tháng 5, Chế Mân chết. Tháng 9 con của Huyền Trân là Chế Đa Da sai sứ thần Bảo Lộc Kê đem voi trắng dâng và chắc là để yêu cầu triều đình Đại Việt đi rước công chúa Huyền Trân về, vì <em>“tục nước Chiêm Thành, hễ vua chết thì Hoàng hậu phải vào đàn thiêu chết theo”</em>. Thế là tháng 10 sai Trần Khắc Chung và Đặng Văn sang Chiêm Thành đón công chúa Huyền Trần và con là Đa Da về nước: <em>“Bọn Khắc Chung sang, mượn cớ làm lễ viếng, rồi nói rằng: ‘Nếu công chúa hỏa táng thì việc làm chay không có người chủ trương. Chi bằng hãy ra bờ biển làm lễ chiêu hồn ở ven trời, đón linh hồn cùng về sẽ vào đàn thiêu’. Người Chiêm nghe theo. Khắc Chung dùng thuyền nhẹ để cướp đi rồi đưa về. Bèn cùng Công chúa tư thông loanh quanh mãi ở đường biển, lâu ngày mới đến kinh sư”</em> như<em> ĐVSKTT </em>6 tờ 32a7-33a2 đã ghi.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">ĐVSKTT</span></em><span style="line-height: 115%;"> 6 tờ 33b3-4 nói<em>: “Mùa thu ngày 18 tháng 8 năm Giáp Thân, (1308), công chúa Huyền Trân từ Chiêm Thành trở về. Thượng hoàng sai trại chủ Hóa Châu đưa 300 người Chiêm đi thuyền trở về nước họ”.</em> Thế là gần một năm Trần Khắc Chung mới đưa được Công chúa Huyền Trân về Đại Việt. Và chưa đầy 3 tháng trước khi Thượng hoàng mất, công việc Chiêm Thành vẫn được Thượng hoàng theo dõi. Chúng ta ngày nay không biết trại chủ Hóa Châu lúc bấy giờ là ai và tại sao phải đưa 300 người Chiêm về nước của họ. Phải chăng họ là những người Chiêm đã đi cùng Công chúa ra biển làm lễ chiêu hồn? Dẫu sao, trước khi mất, Thượng hoàng đã gặp lại được người con gái thân yêu của mình tưởng phải mãi mãi xa cách để thực hiện một sứ mệnh có lợi cho đất nước muôn đời về sau. Đó là đưa hai châu Ô và Lý vào bản đồ Đại Việt, để sau này trở thành vùng đất Thuận Hóa nổi tiếng và từng là kinh đô của một nước Việt </span></span></span><span style="font-size: 10.0pt; mso-bidi-font-size: 11.0pt; line-height: 115%; font-family: 'Arial','sans-serif';"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Nam</span></span><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"> thống nhất.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Châu Ô chính là vùng đất Ô Mã của Chiêm Thành, mà Toa Đô trong đợt xâm lược năm 1283 đã báo cáo là vùng đất <em>“nằm gần nước An Nam”</em>, như <em>Bản K</em>ỷ của <em>Nguyên sử</em> 13 tờ 3a5 đã ghi nhận. Còn châu Lý, tức vùng đất Việt Lý, mà bọn Toa Đô phải đi qua trước khi tiến công vào trại Bố Chính và đất Hoan Ái của ta và đã gây cho ta nhiều tổn thất. Chính vì cánh quân Toa Đô từ miền Nam kéo ra này đã gây nên diễn biến chính trị và quân sự phức tạp đến nỗi vua Trần Nhân Tông và Thượng hoàng đã phải chỉ huy cánh quân phía Nam của ta để đối phó lại với chúng và cuối cùng đã chiến thắng vang dội với việc chém đầu Toa Đô và bắt sống gần một vạn quân chúng tại trận Tây Kết lần thứ hai.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Ô, Lý, do đó có một vị trí chiến lược xung yếu đối với nền an ninh của Đại Việt. Cho nên dưới cái nhìn chiến lược của một nhà quân sự thiên tài, ngay từ những năm chiến tranh, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã nghĩ tới việc nắm lấy hai châu này để đảm bảo cho sự sống còn của Đại Việt được an toàn. Chắc chắn xuất phát từ cái nhìn như thế, mà cả một loạt biện pháp đã được thực hiện, trong đó có cả việc gả công chúa Huyền Trân, người con gái duy nhất của Thượng hoàng cho vua Chiêm là Chế Mân. Việc sáp nhập hai châu Ô, Lý vào bản đồ Đại Việt đã diễn ra một cách hòa bình, rất khác với việc sáp nhập ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính của Lý Thánh Tông hơn 200 năm trước đó.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Lý Thánh Tông đã bắt Chế Củ dâng đất để chuộc mạng sống của mình. Còn vua Trần Nhân Tông thì không thế. Vua Chiêm có thêm một người vợ Việt, và người vợ này còn sinh hạ cho vua Chiêm một người con trai là Chế Đa Da. Sách lược ngoại giao hòa bình của vua Trần Nhân Tông đã đem lại những thành quả chính trị và an ninh quá to lớn thật không ngờ tới. Từ đây ta thấy dòng </span></span></span><span style="font-size: 10.0pt; mso-bidi-font-size: 11.0pt; line-height: 115%; font-family: 'Arial','sans-serif';"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Nam</span></span><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"> tiến của người Việt ngày càng dồn dập như một cơn thủy triều đang cuồn cuộn dâng lên. Chưa đầy một trăm năm sau khi Ô Lý đã thành châu Thuận và châu Hóa, thì Hồ Quý Ly đã có thêm Thăng Hoa và Tư Nghĩa. Hơn nửa thế kỷ sau Hồ Quý Ly, Lê Thánh Tông đã cắm mốc trên núi Đá Bia ở Phú Yên. Việc lấy được Ô, Lý bằng con đường hòa bình như thế đã đặt nền móng cho việc mở rộng biên cương của tổ quốc. Đây phải nói là một trong những cống hiến vĩ đại của vua Trần Nhân Tông đối với dân tộc, mà muôn đời về sau con cháu vẫn còn ghi nhớ. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;"> </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Hoạt động hoằng pháp</span></span></span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;">
<p>&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Công việc Chiêm Thành cho đến những giờ phút cuối cùng của cuộc đời mình, Thượng hoàng vẫn có một quan tâm sâu sắc. Tuy thế, không phải vì công việc đó mà Thượng hoàng sao nhãng những công việc khác. Theo T<em>hánh đăng ngữ lụ</em>c thì vào năm Giáp Thìn (1304), Thượng hoàng <em>“đi khắp các xóm làng để giáo hóa và trừ bỏ các việc thờ cúng bậy, dạy cho họ thực hành 10 điều thiện”</em>. Việc Thượng hoàng Trần Nhân Tông đem 10 điều thiện để dạy dân chúng rõ ràng phản ảnh quan điểm chính trị của Phật giáo Việt </span></span></span><span style="font-size: 10.0pt; mso-bidi-font-size: 11.0pt; line-height: 115%; font-family: 'Arial','sans-serif';"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Nam</span></span><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"> mà trước đó hơn ngàn năm đã được ghi vào trong kinh Lục Độ tập. Bản kinh này có thể nói là một trong những bản kinh xưa nhất của Phật giáo nước ta hiện biết, đã tổng hợp nhuần nhuyễn và thành công tư tưởng Phật giáo và truyền thống dân tộc. Nó liên tục kêu gọi những người lãnh đạo chính trị phải dùng 10 điều thiện làm <em>“pháp luật quốc gia” </em>(quốc pháp), làm <em>“chính sách quốc gia”</em> (quốc chính). Và đây là lần đầu tiên ta thấy Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã thực hiện lời kêu gọi này.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Cũng trong năm Giáp Thìn ấy, mùa đông <em>“Anh Tông dâng biểu thỉnh Thượng hoàng về đại nội, xin thọ tại gia Bồ Tát tâm giới. Ngày Thượng hoàng vào thành, vương công bắt quan chuẩn bị đầy đủ lễ nghi đón rước. Vương công bắt quan đều cùng thọ giới”</em>. Thế là cả một triều đình Đại Việt đã cố gắng sống theo lời dạy của đức Phật. Việc thọ tại gia Bồ Tát tâm giới thể hiện rất rõ cơ sở tư tưởng<em> Cư trần lạc đạo</em> mà Thượng hoàng đã tiếp nhận trực tiếp từ thân phụ mình là Vô Nhị Thượng Nhân Trần Thánh Tông và vị thầy Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Quốc Tung.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Và có thể ngay cả trước khi vua Anh Tông mời Thượng hoàng thực hiện các buổi lễ này, triều đình Đại Việt là một triều đình Phật giáo và người dân Đại Việt là những Phật tử. Trong chuyến đi sứ năm 1293, khi về nước, Trần Phu đã viết bài phú <em>An Nam tức sự</em>, chép trong <em>Trần Cương Trung thi tập</em> 2 tờ 24a3-37b2, đã cho ta biết triều đình nhà Trần <em>“tuy có đền miếu, nhưng không có lễ cúng kỡ hàng năm, chỉ có cúng Phật là rất kính thành”</em>, còn <em>“dân hết thảy đều là thầy tu” (dân tất tăng). Và ngay cả Hưng đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Trần Phu cũng không quên ghi nhận Hưng Đạo Vương “rất chuộng Phật, nên đặt tên châu là Vạn Kiếp”</em>. Và Thiếu bảo Đinh Củng Viên trong thơ tiễn Trần Phu, cũng đưa tư tưởng Phật giáo vào. Bài thơ này chép trong <em>Trần Cương Trung thi tập</em> 2 tờ 27b3-6, và chưa được các sách vở nước ta từ những thi tập xưa nhất như <em>Việt âm thi tập, Trích diễn thi tập, Toàn Việt thi lụ</em>c cho đến các sưu tập thơ văn Lý &#8211; Trần ngày nay ghi lại. Cho nên chúng tôi cho công bố ra đây để làm tư liệu, nhằm bổ sung cho di sản văn học Lý-Trần nói chung và thơ văn của Đinh Củng Viên nói riêng:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Sứ tinh phi hạ ủng tường yên </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Bất đạn kỳ khu lộ cửu thiên </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Song tụ phất khai nam hải chướng </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Nhất thanh hát phá hạ thừa thiền. </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Diệu linh thủ xuất Chung Quân thượng </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Anh luận cao cư Lục Giả tiền </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Qui đáo triều đoan tu vị thuyết </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Viễn manh nhật dạ chúc Nghiêu niên. </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">(Sao sứ bay qua bám khói lành, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Chín trời đường khó chẳng ngại lên, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Miền nam chướng khí vung tay mở, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Cấp thấp đạo thiền hét tiếng rền. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Tuổi trẻ Chung Quân hơn một bước, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Bàn hay Lục Giả đứng bề trên, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Triều đình về tới nên tâu báo, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Vua thọ, dân xa chúc những đêm).</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Buổi lễ trao tâm giới Bồ Tát tại gia cho vua và triều đình vào mùa đông năm Giáp Thìn (1304) ấy xong, <em>Thánh đăng ngữ lụ</em>c viết tiếp: “<em>Sau đó vua trác tích ở chùa Sùng Nghiêm núi Chí Linh, xiển dương tôn giáo”</em>. Tất nhiên, không phải đến cuối năm Giáp Thìn Thượng hoàng mới tới trác tích tại chùa Sùng Nghiêm, bởi vì <em>ĐVSKTT</em> 6 tờ 17b8-9 đã ghi nhận là Thượng hoàng đã ở ngôi chùa này từ năm Tân Mão (1303) và Đoàn Nhữ Hài trước khi đi sứ Chiêm Thành đã đến đó gặp Thượng hoàng để xin ý kiến. Có lẽ <em>Thánh đăng ngữ lục</em> ghi sự có mặt của Thượng hoàng tại chùa Sùng Nghiêm vào cuối năm Giáp Thìn ấy là nhằm nhấn mạnh đến việc <em>“xiển dương tôn giáo”</em> mà Thượng hoàng thực hiện vào thời điểm ấy. </span></span></span></p>
</div>
<div class="clear"></div>
</div>
<div id="page-1115" class="tab-content-small">
<div class="text">
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><strong><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Buối sáng chùa Sùng Nghiêm</span></span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Quả vậy, sau khi chép thế rồi, <em>Thánh đăng ngữ lục</em> đã dành hơn 6 tờ nữa để ghi lại bài giảng của Thượng hoàng tại chùa Sùng Nghiêm:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">“Lúc đầu khai đường, Thượng hoàng lên tòa giảng, niêm hương báo ân xong, bèn đến tòa giảng. Thượng thủ đánh bảng.v.v. xin mời Điều Ngự. Bèn nói: ‘Đức Thích Ca Văn Phật vì một việc lớn mà xuất hiện ở đời, 49 năm, nhúc nhích đôi mép môi, mà chưa từng nói một chữ. Ta nay vì các người mà lên tòa giảng này, thì nói cái gì?’ Rồi Thượng hoàng ngồi xuống giường thiền, một chốc, bèn nói:</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Đỗ quyên rền rỉ, trăng ngày sáng </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Đừng để tầm thường xuân luống qua</span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Lại đánh xuống một cái: ‘Chẳng có gì cả, hãy đi ra đi, đi ra đi’”.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Ở đây chúng tôi chỉ trích một đoạn để cho thấy một phần nào quy trình và nội dung của buổi giảng đã bắt đầu như thế nào và tiến hành ra sao? Ta có thể chắc chắn, mỗi lần bắt đầu buổi giảng, mà từ chuyên môn ở đây gọi là khai đường, thì hẳn đã có giấy bố cáo để cho mọi người biết để đến nghe. Khi mọi người đã có mặt, vị giảng sư sẽ đi lên giảng tòa, làm lễ niêm hương cám ơn chư Phật chư Tổ, rồi đi đến tòa giảng. Tại đây người đứng tổ chức và điều khiển buổi giảng, mà <em>Thánh đăng ngữ lục</em> gọi là thượng thủ, sẽ đánh một hồi vào bảng gỗ báo hiệu buổi giảng bắt đầu, rồi mời vị giảng sư khai mạc buổi giảng.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Đúng theo tinh thần của truyền thống thiền tông, lời khai mạc của Thượng hoàng Trần Nhân Tông tại buổi giảng cuối đông năm Giáp Thìn (1304) đã khởi đầu bằng cách nhắc tới việc đức Thế Tôn trong 49 năm thuyết pháp chưa từng nói một lời. Sau đó Thượng hoàng đã liên hệ tới buổi giảng của mình, chỉ ra rằng đức Thế Tôn còn không nói một lời như thế thì tôi đây có gì để nói ra. Xong lời khai mạc, bấy giờ Thượng hoàng mới ngồi xuống giường thiền, giáo đầu cuộc nói chuyện qua việc dặn dò mọi người đừng để thời gian luống qua, đúng theo tinh thần mà Đức Thế Tôn đã giáo huấn trong giờ phút lâm chung của Ngài: <em>“Mọi vật là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có buông lung”</em> (Vayadhammà samkhàrà appamàdena sampàdethâti).</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Sau đó, buổi giảng trở thành cuộc đối thoại thiền giữa một vị thiền sư và các thiền sinh. Đây phải nói là một nét đặc biệt của việc diễn giảng của Phật giáo Việt </span></span></span><span style="font-size: 10.0pt; mso-bidi-font-size: 11.0pt; line-height: 115%; font-family: 'Arial','sans-serif';"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;">Nam</span></span><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"> ngày xưa. Những câu hỏi được thiền sinh nêu lên. Vị thầy sẽ tùy theo câu hỏi mà trả lời. Có thể nói đây là buổi giảng đầu tiên trong lịch sử đã được ghi chép lại đầy đủ, cung cấp cho ta một điển hình về sinh hoạt diễn giảng Phật giáo Việt </span></span><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;">Nam</span></span><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"> của thế kỷ thứ 13, nếu không là của các thế kỷ trước đó. Nghiên cứu điển hình này giúp cho ta có một nhận thức khá chính xác và cụ thể về sinh hoạt diễn giảng vừa nói. Trong buổi giảng vào cuối năm Giáp Thìn nói trên, ta thấy có ít nhất ba thiền sinh đứng lên hỏi. Và sau đây là cuộc đối thoại của thiền sinh thứ nhất với Thượng hoàng:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Một vị tăng hỏi: <em>“Thế nào là Phật?”.</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Đáp: <em>“Hiểu theo như trước là chẳng phải”</em>.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Lại tiến lên hỏi: <em>“Thế nào là Pháp?”</em>.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Đáp: <em>“Hiểu theo lối trước là chẳng phải”</em>.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Lại đứng lên hỏi:<em> “Rốt ráo là thế nào?”.</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;">Đáp:</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><em style="font-family: arial; font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Tám chữ mở toang trăng trối hết</span></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Chẳng còn gì nữa để trình ông.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Lại đứng lên hỏi: <em>“Thế nào là Tăng?”.</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Đáp: <em>“Hiểu theo lối trước lại chẳng phải”.</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Lại đứng lên hỏi: <em>“Rốt ráo là như sao?”. </em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Đáp: </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Tám chữ mở toang trăng trối hết</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Chẳng còn gì nữa để trình ông.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Lại đứng lên hỏi: </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">“Thế nào là một việc hướng thượng?”.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Đáp:<em> “Đứng đầu gậy khêu trời trăng”.</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Lại đứng lên hỏi: <em>“Dùng công án cũ để làm gì?”.</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Đáp:<em> “Mỗi lần nêu ra mỗi lần mới”.</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Lại đứng lên hỏi: </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">“Thế nào là giáo ngoại biệt truyền?”</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Đáp: <em>“Ễnh ương nhảy không ra khỏi đấu”.</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Lại đứng lên hỏi: </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">“Hiện ra rồi chìm mất là thế nào?”.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Đáp:<em> “Còn tùy dài ngắn bước cát bùn”.</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Tiến lên hỏi:<em> “Thế còn nhảy không ra”.</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Điều Ngự bèn lên tiếng: <em>“Tên mù kia thấy cái gì?”</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Bèn đứng lên nói: <em>“Đại tôn đức lừa người để làm gì?”</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Điều Ngự bèn thở dài. Vị tăng ngẫm nghĩ. Điều Ngự liền đánh. Vị tăng lại định đi ra hỏi. Điều Ngự liền hét. Vị tăng cũng hét.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Điều Ngự nói: <em>“Lão tăng bị ông hét một tiếng, hét hai tiếng rốt ráo để làm gì? Nói mau, nói mau”.</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Vị tăng ngẫm nghĩ. Điều Ngự lại hét một tiếng, nói: <em>“Con dã hồ tinh kia vừa đến láu lỉnh, nay ở chỗ nào rồi?”.</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Vị tăng vái rút lui”.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Chúng tôi cho dịch trọn vẹn cuộc đối thoại giữa thiền sinh thứ nhất với Thượng hoàng, để cho thấy phong cách và nội dung của buổi giảng vào cuối đông năm Giáp Thìn (1304) tại chùa Sùng Nghiêm. Nội dung bao gồm những vấn đề về Phật pháp tăng, về việc hướng thượng, về giáo ngoại biệt truyền. Và đúng theo phong cách của thiền tông những câu trả lời có vẻ không ăn nhập gì và chỉ có thể hiểu được đối với người trong cuộc. Ngôn ngữ thiền có những nét đặt trưng của nó, đòi hỏi người lĩnh hội phải có một trình độ, một quyết tâm tìm hiểu vấn đề như thế nào đó. Nó có cấu trúc rất khác với ngôn ngữ thường ngày, dù vẫn dùng chung một bộ từ vựng, mà khi nói lên, ta tưởng ai cũng có thể lĩnh hội dễ dàng. Điều này ta có thể thấy ngay khi đọc đoạn đối thoại vừa trích.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Dạng đối thoại thiền này, căn cứ vào <em>Thiền uyển tập anh</em>, thì đã xuất hiện từ thời Pháp Hiền (?- 626) và đặc biệt thịnh hành vào thời Viên Chiếu (999-1090), khi Viên Chiếu viết <em>Tham đồ hiển quyế</em>t và hầu như được bảo lưu trọn vẹn cho tới ngày nay. <em>Tham đồ hiển quyết</em> có nhiệm vụ làm rõ những công án nhằm để dạy cho những người tham thiền hiểu được ý nghĩa của chúng. Chẳng hạn, <em>Thiền uyển tập anh</em> ghi lại một trong những câu đầu tiên của Tham đồ hiển quyết như thế này:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">“Có vị tăng hỏi: </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">- Phật với Thánh nghĩa ấy thế nào? </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Sư đáp: </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Cúc trùng dương dưới giậu </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Oanh thục khí đầu cành”</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Ta có thể hiểu quan hệ giữa Phật và Nho giáo giống như hoa cúc nở vào tháng 9, oanh hót vào đầu mùa xuân. Điều này có nghĩa Phật giáo và Nho giáo có những nhiệm vụ khác nhau, tùy vào những điều kiện cụ thể, mà chúng có thể ứng dụng cho phù hợp.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Ngôn ngữ thiền như thế có những cấu trúc về ngữ nghĩa, mà chỉ người trong cuộc mới nhận ra và nắm bắt được. Có người giải thích cấu trúc ngữ nghĩa ấy có mục đích đánh thức, khơi dậy tiềm năng giác ngộ nằm sẵn đâu đó trong mỗi con người. Tuy nhiên, ngôn ngữ thiền không chỉ giới hạn trong cấu trúc ngữ nghĩa hay ngữ pháp. Thực tế, nó vượt ra ngoài ngôn ngữ lời nói và bao gồm cả những động tác thân thể khác như cái nhìn, tiếng hét, tay đánh v.v… tức là ngôn ngữ cơ thể. Trong đoạn đối thoại trên, ta thấy xuất hiện cả ngôn ngữ cơ thể vừa nói. Thượng hoàng đã hét và đánh vị thiền sinh. Kết quả của buổi giảng, bao nhiêu người đã hiểu được Phật giáo, bao nhiêu người đã giác ngộ sự thật, ta ngày nay không biết. Nhưng chắc chắn họ đã có một sự nhận thức thế nào đó về Phật giáo. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR"> </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Có người sẽ đặt vấn đề lối diễn giảng này chịu ảnh hưởng lối diễn giảng thiền Trung Quốc hay không? Tất nhiên, thiền như một tư trào văn hóa trong quá trình phát triển của mình chắc chắn đã tiếp thu nhiều yếu tố khác nhau. Cho nên, ngay trong lịch sử thiền tông Trung Quốc, ta đã thấy có nhiều biến đổi qua các thời đại. Thí dụ, chỉ cần đọc các cuộc đối thoại của Huệ Năng và Nghĩa Huyền trong <em>Cảnh đức truyền đăng lục</em> thì ta có thể thấy ngay. Đọc tiểu sử của Huệ Năng, ta thấy câu hỏi và trả lời thật dễ hiểu. Hỏi cái gì thì trả lời cái đó. Nhưng qua đến Nghĩa Huyền, sự việc hoàn toàn khác. Ở đây đã xuất hiện đánh hét trong ngôn ngữ thiền.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Tại nước ta, thiền đã phát triển theo một hướng hoàn toàn khác. Nó đã ra đời nhằm giải quyết một vấn đề tư tưởng. Đó là tại sao tu mà không thấy Phật? Một vấn đề người Việt Nam đã nêu lên vào giữa thế kỷ thứ 5 sau dương lịch.<sup> (<a title="" name="_ftnref1" href="#_ftn1"></a><!--[if !supportFootnotes]--><sup><span style="line-height: 115%;" lang="FR">[1]</span></sup><!--[endif]-->) </sup>Thiền ra đời nhằm trả lời câu hỏi ấy. Và để trả lời, nó đã đưa một quan niệm mới về Phật.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Phật không phải chỉ là một đức Phật lịch sử, càng không phải là một đức Phật nằm bên ngoài ta. Phật nằm ngay chính trong ta. Vì thế, tu là thể hiện đức Phật này, là tìm thấy ở trong chính mình. Xuất phát từ một khởi điểm như vậy, thiền Việt Nam trong quá trình phát triển tất phải chịu tác động của yêu cầu thực tế Việt Nam. Nếu trong quá trình phát triển ấy, ở nơi này nơi khác có những nét tương đồng với những truyền thống thiền khác, thì chúng cũng chỉ thể hiện tính phổ quát, tính nhân loại mà thôi. </span></span></span></p>
<div>
<p style="margin-left: 40px;"><!--[if !supportFootnotes]--></p>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<p><span style="font-size: 12px;"><a style="font-family: arial;" title="" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftnref1">[1]</a><span style="font-family: arial;"> Lê Mạnh Thát, </span><em style="font-family: arial;">Lịch sử Phật giáo Việt Nam</em><span style="font-family: arial;">, I, Nxb. Thuận Hóa, 1999, tr. 574 &#8211; 578.</span></span></p>
</div>
</div>
<div class="clear"></div>
</div>
<div id="page-1116" class="tab-content-small">
<div class="text">
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><strong><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Buổi giảng viện Kỳ Lân</span></span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Buổi giảng thiền tại chùa Sùng Nghiêm vào cuối năm Giáp Thìn trên ít nhiều cho ta thấy sinh hoạt Phật giáo của dân tộc ta nói chung, đồng thời cũng cho thấy hoạt động Phật giáo của cá nhân Thượng hoàng Trần Nhân Tông. <em>Tam tổ thực lục</em> do Tính Quảng và Ngô Thời Nhiệm tập hợp các tư liệu đời Trần để viết nên, đã ghi lại cho ta một buổi giảng khác có sự tham dự của Thượng hoàng Trần Nhân Tông. Đó là buổi giảng tại viện Kỳ Lân vào ngày mồng 9 tháng giêng nhuận năm Bính Ngọ (1306). <em>Tam tổ thực lục</em> đã ghi lại buổi giảng này như sau:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">“Ngày mồng 9 tháng giêng nhuận năm Bính Ngọ, Trúc Lâm đại tôn giả đến viện Kỳ Lân khai đường, bèn chỉ pháp tòa nói: ‘Tòa này là giường mây khúc lục, là tòa báu kim nghê. Ngồi đây đoán định lời lẽ Phật tổ thì thật rất chật hẹp’. Bèn niêm hương:</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Một nén hương này, khói lành thơm phức, khi tốt bay lên, ngưng đọng năm phần pháp thân, biến khắp mười phương lễ diệu. Sức nóng lò hương dâng lên mười phương ban phúc, chín miếu ứng thiêng, tuổi vua lâu bền, ngôi trời vững chãi.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Một nén hương này, trong sạch rễ mầm, hiếm lạ giống tính, không mượn sức bón vun, chỉ nhờ thấm thấy biết. Sức nóng lò hương vâng xin mưa thuận gió hòa, nước thái dân yên, trời Phật thêm sáng, xe pháp thường quay.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Một nén hương này, nướng cũng không chín, đốt cũng không cháy, gõ vào không mở, kéo lại không đến, ngó trộm thì con ngươi khô kiệt, ngửi thử thì cửa não toác đôi. Sức nóng lò hương dâng lên Vô Nhị thượng nhân, Tuệ Trung đại sĩ, mưa pháp ơn nhuần, cháu con đều gội.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Thượng hoàng đến tòa giảng, khi lên tòa giảng, thượng thủ đánh bảng, xin mời. Sư nói: ‘Đại chúng, nếu nhắm vào chân lý thứ nhất mà nói, động niệm tức sai, mở miệng là bậy, thì làm sao hiểu chân lý, làm sao hiểu quán tưởng? Hôm nay, hãy căn cứ vào chân lý thứ hai mà nói, thế có được không nào?’</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Rồi Sư ngoảnh nhìn tả hữu. nói: ‘Ở đây chẳng có người nào có đủ được con mắt to lớn hay sao. Nếu có, hai đóa lông mày không mất một mảy may. Nếu không, bần đạo không khỏi cái miệng lầm rầm, đưa ra những lời thừa rách nát sáo mòn. Nhưng vì các người, xin lấy ra một phần hổ lốn. Hãy lắng nghe, lắng nghe.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Này xem, đạo lớn trống rỗng, đâu buộc đâu ràng, bản tính sáng trong, chẳng lành chẳng dữ. Bởi do chọn lựa, lắm ngả sinh ngang, một nháy thoáng mờ, dễ thành trời vực. Thánh phàm cùng chung một lối, phải trái há được phân ranh. Nên biết tổn phước vốn không, nhân qủa rốt ráo chẳng thật. Người người vốn đủ, ai nấy tròn đầy. Phật tính, pháp thân như hình với bóng, tùy ẩn tùy hiện, chẳng dính chẳng rời. Lỗ mũi thẳng xuống cửa mặt, lông mày vắt ngang hố mắt, há dễ tìm thấy được đâu?</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Nên hãy đi tìm cái đạo không thấy. Ba ngàn pháp môn cùng về tấc dạ. Hà sa diệu dụng thảy tại nguồn tâm. Cái gọi là giới môn, định môn, tuệ môn, các người không thiếu. Nên trở về mà tự nghĩ suy. Phàm những tiếng ho hắng, mày dương mắt nháy, tay cầm chân bước, đó là tính gì? Biết được tính đó là tâm gì, tâm tính rõ thông, thì cái gì đúng, cái gì là không đúng.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Pháp tức là tính, Phật tức là tâm. Tính nào chẳng phải là pháp? Tính nào chẳng phải là Phật. Tức tâm tức Phật, tức tâm tức pháp, pháp vốn chẳng pháp. Tức pháp tức tâm, tâm vốn chẳng tâm, tức tâm tức Phật.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Này các người, thời gian dễ trôi qua, mạng người không dừng lại. Cớ sao ăn cháo ăn chay, mà không rõ việc cái bát cái tô chiếc thìa đôi đũa để tìm hiểu?”</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Chúng tôi cho dịch lại đây toàn văn đoạn mở đầu của buổi giảng tại viện Kỳ Lân của Thượng hoàng, để bổ sung cho những gì còn thiếu sót, mà <em>Thánh đăng ngữ lục</em> đã ghi chép về buổi giảng ở chùa Sùng Nghiêm. Ta đã thấy <em>Thánh đăng ngữ lục </em>chỉ ghi Thượng hoàng <em>“khai đường, lên tòa giảng, niêm hương báo ân xong, bèn đến tòa giảng, thường thủ gõ bảng thưa&#8230;”</em> Nhưng niêm hương báo ân thế nào, Thánh đăng ngữ lục không ghi rõ. Bây giờ với đoạn văn trên, ta biết nghi thức niêm hương có nội dung gì và đã được thực hiện ra sao.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Ngoài ra, chúng tôi cho trích cả đoạn văn trên còn có mục đích khác. Đó là nhằm cho thấy lời giáo đầu tại buổi giảng ở viện Kỳ Lân này có nội dung hoàn toàn thống nhất với lời giáo đầu của buổi giảng ở chùa Sùng Nghiêm. Lời giáo đầu ở viện Kỳ Lân, tuy dài và từ vựng có khác, song ý chính vẫn nhắc tới việc chân lý không thể dùng ngôn từ để diễn đạt và kêu gọi mọi người hãy cố gắng tinh tấn tu tập, đừng để cuộc đời mình trôi qua vô ích. Sự thống nhất về nội dung này giúp ta xác định ai là người đứng ra thực hiện buổi giảng tại viện Kỳ Lân. Người ấy không ai khác hơn là Thượng hoàng Trần Nhân Tông.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Hơn nữa, nếu phân tích nội dung buổi giảng, thì nó cùng một chủ đề và phong cách, thậm chí có những câu hoàn toàn đồng nhất với môn tử. Chỉ cần trích một đoạn ngắn sau đây ta có thể thấy ngay:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">“<em>Bấy giờ có vị tăng bước ra nói: </em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR"> ‘Ăn cơm mặc áo, tầm thường việc </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Sao phải quan tâm để phát ngờ’</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Bèn lạy xuống, rồi đứng lên hỏi: ‘Cõi thiền vô dục thì không hỏi. Cõi dục không thiền, xin nói cho một câu.’ </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Sư đưa tay chỉ vào khoảng không. </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Lại đứng lên hỏi: ‘Dùng đờm dãi người xưa để làm gì?’. </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Sư nói: ’Mỗi lần nêu ra, một lần mới’.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Lại đứng lên hỏi: ‘Người xưa đều nói như thế nào là Phật, như thế nào là pháp, như thế nào là tăng. </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><em><span style="font-family: arial; font-size: 14px; line-height: 115%;" lang="FR">Chỉ như thế</span><span style="line-height: 14px;" lang="FR"><span style="font-family: Arial,sans-serif; font-size: small;"> </span></span></em><em style="font-family: arial; font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">nào ấy thì việc thế nào?’</span></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Sư đáp: ‘Như thế nào. Việc như thế nào’. </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Lại đứng lên nói: </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">‘Không dây đàn gảy tri âm ít </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Cha đánh con nghe, cách điệu cao’”.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Đoạn trích này trong <em>Tam tổ thực lục</em>, tới đây thì được ghi hai chữ <em>“vân vân”</em>. Điều này có nghĩa buổi giảng đang còn tiếp tục nữa, nhưng người trích đoạn vừa nêu đã không chịu chép lại toàn bộ. Dẫu thế, một lần nữa, đọc đoạn vừa trích ta thấy văn cú và ý tứ có nhiều điểm thống nhất với những gì đã giảng vào cuối đông năm Giáp Thìn ở chùa Sùng Nghiêm. Và đây là một nét đặc biệt trong lối diễn giảng của Thượng hoàng Trần Nhân Tông. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR"> </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><strong><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Những ngày cuối đời</span></span></span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;">
<p>&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Ngày mồng một tết năm Mậu Thân (1308) Thượng hoàng về ở tại chùa Báo Ân, huyện Siêu Loại, cho gọi Pháp Loa đến trụ trì chùa, mở trường giảng và làm người nối dõi mình trong dòng thiền Trúc Lâm. Tới tháng tư, Thượng hoàng về kiết hạ tại chùa Vĩnh Nghiêm ở Lạng Giang. Lần này, Thượng hoàng lại gọi Pháp Loa đến giao nhiệm vụ trụ trì chùa Báo Ân và mở trường giảng. Trong ba tháng an cư ở đây, Thượng hoàng đã giảng <em>Cảnh Đức truyền đăng lục</em>, còn quốc sư Đạo Nhất giảng kinh Pháp Hoa cho đại chúng. An cư xong, Thượng hoàng vào núi Yên Tử và cho các hoạn quan và Tam bảo nô trở về nhà. Chỉ giữ lại mười người hầu thường cho đi theo. Rồi bèn trở lên am Tử Tiêu, giảng<em> Truyền đăng lục</em> cho Pháp Loa. Những người hầu dần dần xuống núi gần hết. Chỉ có thượng túc đệ tử Bảo Sát ở lại hầu bên cạnh.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Từ lúc đó trở đi, Thượng hoàng đã đi khắp hang núi và thường sống ở trong nhà đá. Bảo Sát thấy thế, thưa với Thượng hoàng, <em>“Tôn đức tuổi tác đã cao mà cứ xông pha sương tuyết, thì mạng mạch của Phật pháp sẽ thế nào?”</em>. Thượng hoàng đã trả lời:<em> “Thời ta đã đến, ta muốn làm kế trường vãng”</em>. Ngày mồng 5 tháng 10, gia đồng của công chúa Thiên Thụy lên núi tâu:<em> “Thiên Thụy đau nặng, xin gặp tôn đức để chết”</em>. Thượng hoàng bùi ngùi nói: <em>“Thời tiết đã đến rồi”</em>. Rồi xách gậy xuống núi, chỉ đem theo một người hầu. Đi mười ngày mới tới Thăng Long. Đó là hôm rằm tháng mười. Sau khi dặn dò chị mình xong, bèn trở về núi. Ngủ đêm tại chùa Báo Ân của Siêu Loại. Sáng tinh mơ hôm sau, bèn lại ra đi. Đến chùa thôn hương Cổ Châu, Thượng hoàng tự đề lên vách chùa bài kệ:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Số đời hơi thở lặng </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Tình người đôi biển ngân </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Cung ma chật hẹp lắm </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Nước Phật khôn xiết xuân</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Ngày 17, Thượng hoàng ngủ đêm lại ở chùa Sùng Nghiêm núi Chí Linh. Thái hậu Tuyên Từ mời đến am Bình Dương đãi chay. Thượng hoàng vui vẻ nói: <em>“Đây là bữa cơm cúng dường cuối cùng”</em>. Rồi nhận lời. Ngày 18, Thượng hoàng lại đi bộ đến chùa Tú Lâm ở núi Kỳ Đặc của vùng Yên Sinh, thì thấy nhức đầu. Bèn gọi hai tỳ kheo Tử Doanh và Hoàn Trung bảo: <em>“Ta muốn lên núi Ngọa Vân mà sức chân đi không nổi, biết làm sao bây giờ”</em>. Hai vị tỳ kheo nói<em>: “Hai đệ tử có thể giúp vậy”</em>. Vừa đến núi Ngọa Vân, Thượng hoàng cám ơn hai vị tỳ kheo và bảo:<em> “Xuống núi gắng tu hành, chớ cho sống chết là chuyện chơi”</em>. Ngày 19, sai thị giả Pháp Không lên am Tử Tiêu núi Yên Tử gọi Bảo Sát về gấp. Ngày 20, Bảo Sát ra đi, đến suối Doanh, thấy một dải mây đen từ núi Ngọa Vân qua tới Lỗi Sơn, rồi phủ xuống suối Doanh. Nước lớn dâng lên mấy trượng, chốc lát lại hạ xuống, thì thấy hai đầu rồng lớn như con ngựa đang cất cao hơn một trượng, đôi mắt sáng như sao, giây lát rồi biến mất. Đêm ấy Bảo Sát ngủ qua đêm tại Sơn điếm, lại nằm mơ thấy chuyện không lành.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Ngày 21, Bảo Sát đến núi Ngọa Vân. Thượng hoàng thấy đến, mỉm cười nói: <em>“Ta sắp đi rồi, ngươi sao đến muộn thế. Trong Phật pháp, ngươi có điểm nào chưa rõ, mau đem ra đây”.</em> Bảo Sát đứng lên hỏi: <em>“Khi Mã đại sư không khỏe, viện chủ hỏi: ‘Gần đây Tôn đức thế nào?’ Mã nói: ‘Ngày gặp Phật, tháng gặp Phật’, ý chỉ thế nào?”. </em>Thượng hoàng nói lớn: <em>“Năm đế ba vua là vật gì?”</em>. Sát lại đứng bên hỏi:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">“Chỉ như </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Hoa phơi phới chừ gấm phới phơi </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Trúc đất Nam chừ cây đất Bắc </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">thì làm sao”.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Thượng hoàng nói:<em> “Mắt ngươi mù rồi chăng</em>”. Sát thôi không hỏi nữa. Từ đó bốn ngày trời đất tối tăm, gió lốc thổi mạnh, mưa tuyết phủ cây, khỉ vượn đi quanh am khóc la. Chim rừng buồn bã hót.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Ngày mồng một tháng 11, vào lúc nửa đêm, sao mai sáng rực, Thượng hoàng hỏi: <em>“Lúc này mấy giờ rồi”</em>. Bảo Sát trả lời: <em>“Giờ Tý”</em>. Thượng hoàng dùng tay mở cánh cửa sổ ra nhìn rồi nói: <em>“Đây là giờ ta đi”</em>. Bảo Sát hỏi: <em>“Tôn đức đi đâu?”</em>. Thượng hoàng nói:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Tất cả pháp không sinh </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Tất cả pháp không diệt </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Nếu hay hiểu như vậy </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Chư Phật thường hiện tiền </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Sao có chuyện đến đi</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Bảo Sát đứng lên hỏi: <em>“</em>Nếu không sanh không diệt thì thế nào?” Thượng hoàng bỗng nhiên lấy tay che miệng nói: “Đừng nói mớ”. Nói xong Thượng hoàng nằm theo thế sư tử, rồi lặng lẽ ra đi. Đến đêm ngày mồng 2, Bảo Sát theo di chúc đem hỏa táng ở tại am Thượng hoàng ở. Hương thơm bay ngào ngạt, nhạc trời vang dội cả hư không. Có mây ngũ sắc phủ lên giàn lửa. Đến ngày mồng 4, tôn giả Phổ Tuệ mới từ núi Yên Tử lật đật mà đi đến. Đem nước thơm tưới giàn lửa. Làm lễ thu ngọc cốt, lại lượm được xá lợi ngũ sắc, loại lớn hơn năm trăm viên, loại nhỏ như hạt thóc, hạt cải thì không thể kể xiết.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Bấy giờ hoàng đế Anh Tông và quốc phụ thượng tể đem triều đình cùng thuyền ngự đến vái lạy từ chân núi, khóc lóc vang động đất trời. Sau đó bèn rước ngọc cốt và xá lợi xuống thuyền ngự đưa về kinh đô Thăng Long. triều đình và dân dã buồn thương khóc lóc vang động cả đất trời, dâng tôn hiệu Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh Huệ Giác Hoàn Điều Ngự Tổ Phật, rồi đem ngọc cốt vào trong khám báu, phân chia xá lợi làm hai phần. Mỗi phần đều đựng trong hộp vàng bảy báu. Việc chay xong rước ngọc cốt nhập vào đức lăng, miếu hiệu là Nhân Tông. Lấy một phần xá lợi đưa vào bảo tháp đặt ở đức lăng của Long Hưng. Còn một phần thì gói đưa vào tháp vàng đặt ở chùa Vân Yên núi Yên Tử.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Những ngày cuối cùng của Thượng hoàng Trần Nhân Tông là như thế theo <em>Thánh Đăng ngữ lục</em>. <em>ĐVSKTT</em> 6 tờ 23b4-24a4 chép ngắn gọn hơn và khác đi đôi chút: <em>“Ngày mồng 3(tháng 11) Thượng hoàng băng ở am Ngọa Vân ở núi Yên Tử. Bấy giờ Thượng hoàng xuất gia ở ngọn Tử Tiêu của núi Yên Tử, tự gọi là Trúc Lâm đại sĩ. Chị Thượng hoàng là Thiên Thụy đau nặng, bèn xuống núi đi đến thăm bảo: ‘Chị nếu thời tới thì tự đi, gặp cõi âm có hỏi việc gì thì cứ trả lời: ‘Xin đợi một chút, em tôi là Trúc Lâm đại sĩ sẽ đến’. Nói xong Thượng hoàng trở về núi, dặn dò thị giả Pháp Loa về hậu sự rồi lặng lẽ ngồi mà mất.</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Thiên Thụy cũng mất vào ngày hôm ấy. Pháp Loa thiêu được xá lợi hơn 3000 hạt, vâng đem tới chùa Tư Phúc của kinh sư. Vua nghi ngờ, còn quần thần thì phần lớn xin hỏi tội Pháp Loa. Hoàng thái tử Mạnh tuổi vừa lên 9 hộ một bên. Ở trong mình liền có mấy viên xá lợi. Bèn đem ra để thấy. Kiểm lại thấy trong hộp thì có thiếu mấy hạt. Vua (Anh Tông) cảm động khóc lóc, trong lòng mới hết nghi ngờ”.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Vậy là theo <em>ĐVSKTT</em>, ta không thấy vai trò của Bảo Sát, mà <em>Thánh đăng ngữ lục</em> gọi là thượng túc đệ tử của Thượng hoàng Trần Nhân Tông, người đã được Thượng hoàng cho gọi đến và ở bên cạnh trong những giây phút cuối cùng. Và cũng chính Bảo Sát đã thực hiện việc hỏa táng theo lời dặn dò của Thượng hoàng, mà không cần sự có mặt của Pháp Loa. Khi Pháp Loa tới, thì chỉ có việc dùng nước thơm tưới tắt giàn hỏa và thu lấy xá lợi cũng như ngọc cốt. Qua những sự kiện như thế, hình như vai trò Pháp Loa dù được Thượng hoàng cho làm người nối pháp, vẫn có vẻ như rất mờ nhạt trong những giờ phút cuối cùng của cuộc đời của Thượng hoàng.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Đến hơn một năm sau, <em>ĐVSKTT</em> 6 tờ 25b9 -27a8 đã kể lại việc đưa xá lợi Thượng hoàng đi nhập tháp: <em>“Ngày 16 tháng 9 mùa thu năm Canh Tuất (1310), rước linh cữu Thượng hoàng đưa về chôn ở lăng Quy Đức ở phủ Long Hưng, xá lợi thì để tại bảo tháp am Ngọa Vân, miếu hiệu là Nhân Tông, thụy là Pháp Thiên Sùng Đạo Ứng Thế Hóa Duyên Long Từ Huyễn Huệ Thánh Văn Thần Vũ Nguyên Minh Duệ Hiếu hoàng đế. Đem Khâm Từ Bảo Thánh thái hoàng thái hậu hợp táng ở đấy. Trước đó tạm quàn tại tể cung của Nhân Tông ở điện Diên Hiền. Khi sắp đưa đi, giờ đã đến rồi mà quan liêu dân chúng đứng chật khắp cung điện. Tể tướng cầm roi xua đuổi, rốt cuộc cũng không thể mở đường.</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Vua cho gọi chi hầu chánh chưởng Trịnh Trọng Tử đến bảo: ‘Linh cữu sắp đưa mà dân chúng đầy nghẽn như thế thì làm thế nào?’. Trọng Tử lập tức đến đền Thiên Trì gọi quân Hải khẩu và Hổ dực (quân của Trọng Tử trông coi) đến ngồi la liệt trong thềm, sai hát mấy câu khúc Long ngâm. Mọi người ngạc nhiên kéo nhau đến xem, cung điện mới giãn người, bèn rước về lăng Quy Đức. Trọng Tử lo dọc đường tất có chỗ thế đất quanh co, nếu nghiêm tỉnh không nói to thì sợ có chỗ nghiêng lệch. Nếu có truyền gọi bảo ban thì lại sợ ồn ào. Bèn đem các câu dặn cách đi đứng ngang dọc, viết vào khúc Long ngâm, khiến mọi người hát theo để cùng bảo nhau. Người bấy giờ khen là giỏi (&#8230;)</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Xá lợi của Nhân Tông để vào bảo tháp thì có sư Trí Thông phụng hầu. Trước đây, khi Nhân Tông mới xuất gia, sư chùa Siêu Loại là Trí Thông đốt cánh tay từ bàn tay vào đến khủy tay và vẫn nghiễm nhiên không đổi sắc mặt. Nhân Tông đến xem, Trí Thông đặt chỗ cho vua ngồi, rồi lạy nói: ‘Thần tăng đốt đèn mà thôi. Đốt đèn xong thì trở về viện, ngủ say, thức dậy thì thấy phỏng liền lành’. Đến đây, khi Nhân Tông băng, bèn vào núi Yên Tử phụng hầu bảo tháp xá lợi, đến thời Minh Tông thì tự thiêu chết”.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;" lang="FR">Cuộc đời của vua Trần Nhân Tông, sau khi mất, được <em>ĐVSKT</em>T ghi lại như thế. Ta thấy ít có vị vua nào trong lịch sử dân tộc lại có sự ghi chép đầy đủ về sự mến mộ của người dân sau khi đã mất. Đây là một cuộc đời chỉ trong vòng 50 năm, mà có những đóng góp vô cùng to lớn cho dân tộc và nhân loại. Một cuộc đời đã kết thúc, nhưng đã để lại bao nhiêu lưu luyến cho những người đương thời cũng như hậu thế. Một cuộc đời có một kết thúc hết sức bình dị nhưng lại vô cùng cao đẹp. Ngày nay, mỗi khi đọc lại những gì tổ tiên ta đã viết về những ngày cuối cùng của vua Trần Nhân Tông, chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động như mình đang đối diện với một người đang sống bằng xương bằng thịt trước mặt chúng ta.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px; text-align: center;"><span style="font-size: 14px;">•</span><span style="font-size: 14px;">•</span><span style="font-size: 14px;">•</span><span style="font-size: 14px;">•</span><span style="font-size: 14px;">•</span><span style="font-family: arial; font-size: 14px; line-height: 115%;"> </span></p>
</div>
<div class="clear"></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://trannhantong.net/2013/03/tran-nhan-tong-xuat-gia/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thiền phái Trúc Lâm</title>
		<link>http://trannhantong.net/2013/03/thien-phai-truc-lam/</link>
		<comments>http://trannhantong.net/2013/03/thien-phai-truc-lam/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 17 Mar 2013 14:11:33 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thiền phái Trúc Lâm]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://trannhantong.net/?p=1033</guid>
		<description><![CDATA[Thiền phái Trúc Lâm lâu nay trong các sách lịch sử đều ghi nhận là do vua Trần Nhân Tông thành lập. Đến nửa cuối thế kỷ thứ 18 khi Tính Quảng và Hải Lượng tập hợp các tư liệu để cho ra đời tác phẩm Tam tổ thực lục, thì từ đó cho đến ngày nay, người ta thường cho rằng phái thiền này chỉ truyền được ba đời là chấm dứt. Nhất là sau ba vị này, người [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div id="page-23" class="tab-content-small" style="display: block;">
<div class="text">
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Thiền phái Trúc Lâm lâu nay trong các sách lịch sử đều ghi nhận là do vua Trần Nhân Tông thành lập. Đến nửa cuối thế kỷ thứ 18 khi Tính Quảng và Hải Lượng tập hợp các tư liệu để cho ra đời tác phẩm <em>Tam tổ thực lục</em>, thì từ đó cho đến ngày nay, người ta thường cho rằng phái thiền này chỉ truyền được ba đời là chấm dứt. Nhất là sau ba vị này, người ta quan niệm dòng thiền Trúc Lâm không có người kế thừa kiệt xuất nữa. Và có người đã coi như hết một thời thịnh vượng của Phật giáo, trong đó tất nhiên có dòng thiền Trúc Lâm. Sự thật, ta đã thấy, sau cái chết của thiền sư Huyền Quang năm 1334, Phật giáo vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ và còn có nhiều nhân vật xuất sắc kế thừa dòng thiền này, mà ta sẽ gặp dưới đây. Cho nên, đúng ra vấn đề vua Trần Nhân Tông với dòng thiền Trúc Lâm không đáng để bàn cãi trong tác phẩm này. Nhưng vì những ngộ nhận vừa nêu, nên phải nói sơ một ít về dòng thiền Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông thành lập.</span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"> </span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Về Thiền phái Trúc Lâm</span></span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;">
<p>&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Ta đã bàn về một số vấn đề tư tưởng của vua Trần Nhân Tông, đặc biệt là tư tưởng Cư trần lạc đạo với chủ trương: </span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"> </span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em>Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết sức, </em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em>Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thật khá đồ công</em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Và coi chủ trương này là cột trụ của học thuyết thiền Trúc Lâm. Vì thế, việc trình bày thiền phái Trúc Lâm như một dòng thiền của các thiền sư, nhất là các thiền sư xuất gia, mà trước đây các nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Việt Nam thường hay làm, phải chăng đã thỏa đáng. Tất nhiên, trong quá khứ cũng có những người đã trình bày lại lịch sử thiền phái này như một dòng tu không phân biệt tại gia hay xuất gia. Cụ thể là tác phẩm <em>Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh</em> của Ngô Thời Nhiệm trong phần mở đầu của tác phẩm ấy. Tuy nhiên, cách trình bày của Ngô Thời Nhiệm vẫn chưa được tiếp thu và phổ biến rộng rãi. Thậm chí có người coi cách trình bày của Ngô Thời Nhiệm là không phản ảnh đúng truyền thống Phật giáo, thậm chí là một xuyên tạc. </span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Tuy vậy, những trình bày của Ngô Thời Nhiệm không phải là không có cơ sở, nhất là khi ta đã trình bày giai đoạn vua Trần Nhân Tông xuất gia là một giai đoạn đầy những hoạt động chính trị và quân sự, trong đó gồm cả việc tiếp các phái bộ ngoại giao Trung Quốc, việc chỉ đạo quan hệ với Chiêm Thành và mở mang bờ cõi về phương Nam cũng như việc cầm quân bình định nước Ai Lao quấy rối biên giới phía Tây Bắc. Giai đoạn xuất gia của cuộc đời vua Trần Nhân Tông, do thế, không phải là một giai đoạn tĩnh tu, như nhiều người còn quan niệm và đã mô tả. Ngược lại, đó là một giai đoạn đầy ắp những công việc của dân của nước. Vì vậy, không phải không có lý do và cơ sở cho việc trình bày “<em>hành trạng của ba tổ</em>” Trúc Lâm theo hướng mà Ngô Thời Nhiệm đã đưa ra. </span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Phải nói đây là một hướng trình bày đúng, dù rằng ngày nay do nhận thức lệch lạc ở cả giới tăng sĩ Phật giáo cũng như giới nghiên cứu, sự đúng đắn của lối trình bày vừa nói đã không được thừa nhận và phát huy. Người ta cứ quan niệm vua xuất gia đi tu là rũ bỏ hết mọi việc liên quan với đời, để dồn tâm dồn sức cho việc tu đạo. Nếu vậy, thì làm gì có chuyện gả công chúa Huyền Trân và sáp nhập hai châu Ô Mã và Việt Lý vào bản đồ Đại Việt? Nếu vậy, thì làm gì có việc vua Trần Nhân Tông đã ngăn việc phong tước quá nhiều của vua Trần Anh Tông? Nhìn vào cuộc đời vua Trần Nhân Tông trong những năm tháng xuất gia, chưa bao giờ ta thấy nhà vua lơi là việc nước việc dân, chưa bao giờ nhà vua không quan tâm đến các hoạt động của chính quyền do con mình là vua Anh Tông điều khiển. </span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Tuy nhiên, từ lâu trong giới xuất gia của Phật giáo đã hình thành một quan niệm là khi vua Trần Nhân Tông xuất gia cũng là lúc nhà vua <em>“bỏ ngôi báu, vào cửa thiền, quên mình vì đạo, vừa khi cơ thiền đáp ứng, thì quả nhiên gương sáng chẳng nhọc</em>”, như Diệu Trạm đã viết trong lời tựa in lại <em>Tam tổ thực lục tờ</em> 1a5-6 vào năm Thành Thái thứ 9 (1897). Quan điểm nhìn nhận vua Trần Nhân Tông như thế, sau này, đã được các sách sử tiếp tục lặp lại, coi giai đoạn xuất gia của nhà vua là một giai đoạn dồn hết tâm lực cho việc đạo. Có người đã viết: <em>“Nhưng thắng giặc không lâu, Nhân Tông nhường ngôi cho Anh Tông để đi tìm một cuộc sống tĩnh tại trong cảnh tu hành, trở thành ông tổ thứ nhất của phái Trúc Lâm và gửi hơi thở cuối cùng ở am Ngọa Vân trên núi Yên Tử tĩnh mịch, lúc mới 51 tuổi”</em>. Không chỉ viết vua Trần Nhân Tông xuất gia là để tìm một cuộc sống tĩnh tại, họ còn nói: “<em>Ông muốn dứt bỏ những bận rộn thường tình của xã hội để đi tìm lẽ huyền vi chi phối cuộc sống con người”</em><sup> (<a title="" name="_ftnref1" href="#_ftn1"></a><!--[if !supportFootnotes]--><sup><span style="line-height: 115%;">[1]</span></sup><!--[endif]-->)</sup>.</span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><strong> </strong></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Pháp Loa nhận kế thừa</span></span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;">
<p>&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Rõ ràng một quan điểm nhìn nhận như thế là không thỏa đáng và phù hợp với sự thật lịch sử, mà ta đã biết về cuộc đời vua Trần Nhân Tông, như sử sách ghi lại, cụ thể là <em>ĐVSKTT</em> và <em>Thánh đăng ngữ lục</em>. Hơn thế nữa, nếu phân tích buổi lễ trao truyền vị thế kế thừa dòng thiền Trúc Lâm cho Pháp Loa, như chính văn bia của Pháp Loa ghi lại trong <em>Tam tổ thực lục </em>tờ 18b3 -19a8, ta thấy nổi bật một sự kiện rất khác thường, không tìm thấy ở bất cứ một trường hợp truyền trao nào khác dù ở Trung Quốc hay Việt Nam. Bài văn bia này cho ta biết trước hết <em>“vào tháng 5 Điều Ngự lên ở am tại đỉnh núi Ngọa Vân. Ngày rằm bố tát xong, đuổi tả hữu ra, đem y bát và viết tâm kệ giao cho sư, bảo phải giữ gìn. Ngày mồng một tháng giêng năm Mậu Thân Hưng Long thứ 16 (1308), sư vâng lệnh làm trụ trì nối dòng pháp ở </em></span></span><em><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Cam</span></span><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"> Lộ đường chùa Siêu Loại. Để khai đường và làm lễ trao truyền, vua cho đặt bài vị của liệt tổ, tấu Đại nhạc, đốt hương thơm. Điều Ngự dẫn sư lên lễ tổ đường xong. Sau khi ăn cháo, sai tấu nhạc, đánh trống pháp, tập hợp đại chúng lên pháp đường. Bấy giờ Anh Tông xa giá đến chùa. Sau khi đặt ngôi chủ khách xong, vua Anh Tông vì là đại thí chủ của Phật pháp đứng vào ngôi khách ở pháp đường, thượng tể đem bá quan đứng ở dưới sân. Điều Ngự lên tòa thuyết pháp. Giảng xong, bèn đi xuống, đỡ sư lên tòa. Điều Ngự đứng đối diện chắp tay hỏi han. Sư đáp lễ xong, nhận pháp y mặc vào. Điều Ngự bèn bước sang một bên, ngồi trên giường khúc lục, nghe sư thuyết pháp. Đem chùa Siêu Loại của sơn môn Yên Tử sai sư kế thế trụ trì làm đời thứ hai của dòng Trúc Lâm. Lại đem ngoại thư kinh sử 100 hộp và Đại Tạng 20 hộp nhỏ chép bằng máu chích ra, để mở rộng việc học nội và ngoại điển”.</span></span></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Căn cứ vào lời thuật của văn bia về việc truyền y bát cho Pháp Loa, ta thấy có mấy điểm đáng chú ý. Thứ nhất, vào tháng 5 năm Hưng Long thứ 15 (1307), Pháp Loa đã được gọi lên am Ngọa Vân ở núi Kỳ Đặc để được trao y bát và tâm kệ. Bài kệ này ngày nay đã mất, nên ta không biết có nội dung gì. Tuy nhiên, bảy tháng sau, vào ngày mồng một tết năm Mậu Thân Hưng Long thứ 16 (1308) vua Trần Nhân Tông đã chính thức hóa việc truyền y ở Cam Lộ đường của chùa Siêu Loại thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay với sự chứng kiến của chính vua Trần Anh Tông và thượng tể Trần Quốc Trấn. Thứ hai, tại buổi lễ này, sau việc trao y và nghe Pháp Loa thuyết pháp, vua Trần Nhân Tông còn đem ngoài 20 hộp nhỏ kinh điển Phật giáo, còn đem 100 hộp “<em>kinh sử ngoại thư</em>” giao cho Pháp Loa và dặn dò “<em>mở rộng việc học bên trong và bên ngoài”.</em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Chỉ một việc giao sách kinh sử ngoại thư này thôi trong buổi lễ truyền y bát chính thức tại Cam Lộ đường của chùa Siêu Loại, ta thấy phản ảnh rất rõ mẫu người Phật giáo lý tưởng, mà vua Trần Nhân Tông nhằm tới trong <em>Cư trần lạc đạo phú:</em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em>Sạch giới lòng, dồi giới tướng, </em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em>nội ngoại nên bồ tát trang nghiêm. </em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em>Ngay thờ chúa, thảo thờ cha, </em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em>đi đỗ mới trượng phu trung hiếu</em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Thế rõ ràng con người trượng phu và con người bồ tát phải kết hợp với nhau để thành một con người Phật giáo của thiền Trúc Lâm. Học Phật giáo không loại bỏ những cái học bên ngoài Phật giáo. Và những môn học bên ngoài Phật giáo không loại bỏ cái học Phật giáo. Dĩ nhiên, quan điểm giáo dục này đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử Phật giáo Việt </span></span><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Nam</span></span><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">. Ta biết nó hiện diện tối thiểu là từ thời Mâu Tử (160 -220?) và Khương Tăng Hội (?-280), rồi vẫn được kế thừa một cách mạnh mẽ sau thời Trần Nhân Tông với những tên tuổi lẫy lừng như Hương Chân Pháp Tính (1470-1550?), Minh Châu Hương Hải (1628 -1715) và đặc biệt là Hải Lượng Ngô Thời Nhiệm (1746 -1803) v.v.. Mẫu người lý tưởng của thiền phái Trúc Lâm như thế rất khác xa những mẫu người của Phật giáo thiền Trung Quốc. </span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Trước khi trao truyền y bát, Pháp Loa cũng trãi qua một tiến trình tham vấn có vẻ giống như bất cứ thiền sinh nào trong các thiền viện Trung Quốc, như văn bia của sư đã chép lại trong <em>Tam tổ thực lục tờ</em> 17b1 -8: <em>“Một hôm sư từ chỗ Tín Giác trở về tham yết, gặp lúc Điều Ngự đang thuyết pháp, nêu lên bài tụng ‘Thái dương ô kê’. Sư như có tỉnh ngộ. Điều Ngự biết điều đó, bèn sai theo hấu hai bên. Một đêm nhân khi trình bài tụng Tam yếu, bị Điều Ngự một bút sổ toẹt. Sư bốn lần thỉnh ích. Điều Ngự chỉ dạỵ nên tự tham cứu. Bèn vào phòng trong lòng rất xao xuyến. Đến nửa đêm, nhân thấy hoa đèn rơi, bỗng nhiên đại ngộ, bèn đem điều sở ngộ trình lên Điều Ngự. Điều Ngự rất bằng lòng. Từ đó sư thề tu hạnh 12 đầu đà”.</em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Quá trình tham cứu để giác ngộ của thiền Trúc Lâm như vậy có những nét trông có vẻ như tương tự với quá trình giác ngộ của các thiền sinh ở Trung Quốc cũng như Việt </span></span><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Nam</span></span><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"> trước thời Trần Nhân Tông. Và thực tế các bài giảng của vua Trần Nhân Tông tại chùa Sùng Nghiêm năm Hưng Long thứ 7 (1299) do <em>Thánh đăng ngữ lục</em> tờ 18b6 -20b8 ghi lại và tại viện Kỳ Lân của chùa này do <em>Tam tổ thực lục</em> tờ 36a2 -39b6 trích chép đã một phần nào cho thấy cách diễn giảng về thiền của nước ta vào thời vua Trần Nhân Tông. Chúng có những nét giống hao hao với những buổi giảng thiền tại các thiền viện Trung Quốc và Việt </span></span><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Nam</span></span><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"> trước đó, mà ta có dịp đọc qua ở <em>Cảnh đức truyền đăng lục</em> hay <em>Thiền uyển tập anh</em>. </span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Tuy nhiên, qua buổi lễ truyền trao của ngày mồng một tết của năm Mậu Thân Hưng Long thứ 16 (1308), ta thấy một sự trao truyền tinh thần Phật giáo hoàn toàn khác. Việc trao cho Pháp Loa 100 hộp sách kinh sử ngoại thư cùng với 20 hộp kinh Đại Tạng chép bằng máu và dặn dò Pháp Loa “<em>phải mở rộng cái học bên trong và bên ngoài” </em>không chỉ thể hiện quan điểm giáo dục của vua Trần Nhân Tông và của Phật giáo Việt Nam mà ta đã nói tới. Nó còn thể hiện chủ trương “<em>giáo lý của đức Phật ta phải nhở tiên thánh mà truyền lại cho đời”</em> do vua Trần Thái Tông nêu lên trong <em>Thiền tông chỉ nam tự</em>. Và chủ trương này chắc chắn đã được vua Lý Thánh Tông thực hiện, khi vua vừa cho thành lập thiền phái Thảo Đường, lại vừa mở ngôi trường đại học đầu tiên của quốc gia Đại Việt qua việc xây dựng Văn miếu vào năm 1070, rồi tiếp theo thiết lập Quốc tử giám. </span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Mẫu người Phật giáo lý tưởng này như vậy phải là một mẫu người được giáo dục toàn diện, không cho bất cứ nguồn tri thức nào là xa lạ với nguồn tri thức Phật giáo. Không phải học kinh sử của nhà nho là chối bỏ Phật giáo, thậm chí chống lại Phật giáo, như nhiều sách vở đã từng rao giảng một cách vô bằng. Nho giáo trong lịch sử Việt </span></span><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Nam</span></span><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"> chưa bao giờ chiếm ưu thế, chứ khoan nói chi tới chuyện độc tôn. Có thể nói có bao nhiêu nhà nho là có bấy nhiêu Phật tử, dù rằng đôi khi vì lý do này hay lý do khác đã xảy ra những phê phán một dạng Phật giáo này, một dạng Phật giáo khác, xuất phát từ những người đã trải qua các kỳ thi nho. Và sự tình này có đầu dây mối dợ của nó. Đó là Nho giáo tồn tại ở Việt </span></span><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Nam</span></span><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"> thông qua mẫu hình Phật giáo. </span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Khi vua Trần Thái Tông viết <em>“giáo lý của đức Phật ta phải nhờ tiên thánh mà truyền lại cho đời”</em>, thì đấy không phải là một lời nói suông buông ra từ cửa miệng một vị sư hay một người trí thức nào đó. Ngược lại, nó xuất phát từ một vị vua, một lãnh tụ quốc gia, tất nhiên nó sẽ được phản ảnh trong chính sách văn hóa giáo dục của chính quyền do vị lãnh tụ ấy đề xuất. Chính sách nhà nước của triều Trần đối với Nho giáo như thế là một chính sách dùng Nho giáo như một công cụ phục vụ cho lợi ích của Phật giáo. Phải nhận rõ điều này ta mới thấy trong thời đại Lê sơ, đặc biệt là thời vua Lê Thánh Tông và trở về sau, thường được cho một cách sai lầm là thời kỳ <em>“Nho giáo độc tôn”</em>, tại sao đã có những đề thi đình trong đó có nhiều câu hỏi liên quan đến Phật giáo, nhất là Phật giáo Trúc Lâm. Cụ thể là đề thi năm 1502, mà người đỗ đầu là trạng nguyên Lê Ích Mộc (1459 -?). Cũng may nhờ sự bảo lưu được những đề thi này, ta mới biết chút ít về nội dung học và thi của nền giáo dục Lê sơ, và từ đó đánh bạt được những ngoa truyền về “<em>Nho giáo độc tôn</em>”. </span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Vì thế, ta hoàn toàn không có gì ngạc nhiên trước việc vua Trần Nhân Tông đã trao cho Pháp Loa một trăm hộp “kinh sử ngoại thư” cùng với hai mươi hộp “Đại Tạng kinh Phật giáo” và dặn dò phải mở rộng việc học bên trong cũng như bên ngoài Phật giáo, lúc truyền y bát, để kế thừa làm vị tổ thứ hai của dòng thiền Trúc Lâm. Không những thế, điều này không có nghĩa vua Trần Nhân Tông đã nghiêng hẳn về giới xuất gia trong dòng thiền Trúc Lâm. Ta đã thấy Trần Nhân Tông nhấn mạnh đến “giới lòng” và “giới tướng” của những vị “bồ tát trang nghiêm”. Giới lòng là một Việt dịch của chữ tâm giới tiếng Trung Quốc. Và tâm giới là một tiếng gọi tắt của bồ đề tâm giới, hay cũng gọi là bồ tát giới. Đây là loại giới luật đặc biệt dùng chung cho cả người tại gia và người xuất gia. </span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Việc nhấn mạnh đến tâm giới, do đó, thể hiện quan điểm không phân biệt xuất gia và tại gia của chính vua Trần Nhân Tông. Và thực tế, nếu nghiêng về giới xuất gia và cho việc xuất gia như một quá trình rút ra khỏi cuộc đời thế tục và xa lánh cuộc đời này thì ngay khi truyền y bát cho Pháp Loa, vua đã không truyền thêm một trăm hộp “kinh sử ngọai thư”. Truyền kinh sử ngoại thư để làm gì, nếu không quan tâm đến cuộc đời, mà trong đó mỗi con người đang vươn lên tìm cho mình một chỗ đứng dưới ánh mặt trời. Và cũng lạ thật, nếu Pháp Loa chỉ với tư cách nhà tu, thì ôm lấy kinh sử ngoại thư để làm gì? Ta cần nhớ khi được truyền y bát để kế thừa dòng thiền Trúc Lâm, Pháp Loa còn rất trẻ, mới chỉ 24 tuổi. </span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Ở độ tuổi này, có thể Pháp Loa đã có một cơ sở học vấn tốt, nhưng chưa phải nắm hết mọi ngành học thuật của thời đại mình. Dù vào lúc ấy chưa có cuộc bùng nổ thông tin như thời đại chúng ta, nhưng chắc chắn nhiều ngành học thuật đã phát triển mạnh mẽ và đã tích lũy được một số lượng kiến thức phải nói là phong phú. Cả một loạt những xuất bản phẩm lần đầu tiên ra đời nhờ việc phổ biến nghề in bằng bản gỗ ở Trung Quốc cũng như nước ta mấy trăm năm trước đó. Vì thế, ta có lý do để nghĩ rằng việc vua Trần Nhân Tông giao các hộp sách Phật giáo và ngoài Phật giáo trên cho Pháp Loa là nhằm thể hiện mong muốn của bản thân vua. Nhà vua mong muốn Pháp Loa có đủ kiến thức trong và ngoài Phật giáo, để thực hiện mẫu người Phật giáo lý tưởng của mình một cách trọn vẹn, chứ không phải mong có một người kế thừa khư khư giữ lấy tư cách một nhà tu chỉ biết thiền định và giảng kinh cùng một số công việc tu trì khác. </span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Nói khác đi, vua Trần Nhân Tông mong có một người kế thừa gần giống mình. Ta đã thấy những năm tháng xuất gia của vua là những năm tháng đầy công việc đời cũng như đạo. Vua hy vọng Pháp Loa cũng có một cuộc sống ít nhiều sôi động kiểu ấy. Thế nhưng, trong 22 năm còn lại của cuộc đời mình, Pháp Loa chỉ giới hạn vào công việc Phật giáo là chính. Ngoài ra, ta không thấy có bất cứ dấu hiệu nào chứng tỏ có tham gia vào các hoạt động thế sự. Phải chăng vì những hoạt động thuần túy này, mà văn bia Pháp Loa phải hơn 30 năm sau khi mất mới được khắc lên đá, tức vào năm Nhâm Dần Đại Trị thứ 5 (1362)? </span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Vấn đề quan hệ giữa Pháp Loa và vua Anh Tông theo <em>Thánh đăng ngữ lục </em>và<em> Tam tổ thực lục </em>là một quan hệ khắng khít tốt đẹp. Tuy nhiên, căn cứ <em>ĐVSKTT</em> 6 tờ 39b4-7, trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời mình, vua Anh Tông đã từ chối gặp Pháp Loa. Rồi nhân việc Pháp Loa mất vào năm 1330, <em>Thánh đăng ngữ lục</em> tờ 35a2 -8 chép lúc Pháp Loa đau, vua Minh Tông đã tới thăm và khi mất, vua ban pháp hiệu cũng như làm thơ điếu và sai người đến gặp Huyền Quang nhờ viết lại ngữ lục và hành trạng của Pháp Loa để cho in. Trong lần in này, vua Minh Tông đã đề tựa. Tất cả điều này chứng tỏ Pháp Loa có một ảnh hưởng rất lớn đối với vua Minh Tông. Ta không biết tại sao sau khi vua Minh Tông mất, bản Niên phổ của Pháp Loa mới được khắc lên bia? </span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"> </span></span></p>
<div>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<p style="margin-left: 40px;"><!--[endif]--></p>
<div id="ftn1">
<p class="MsoFootnoteText" style="margin-top: 12pt; margin-right: 0cm; margin-bottom: 12pt; line-height: 120%;"><span style="font-size: 12px;"><span style="font-family: arial;"><a title="" name="_ftn1" href="#_ftnref1"></a><!--[if !supportFootnotes]--><span class="MsoFootnoteReference"><span style="line-height: 120%;"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="line-height: 115%;">[1]</span></span><!--[endif]--></span></span><span style="line-height: 120%;"> Trần Lê Sáng, <em>Tìm hiểu văn phú thời kỳ Trần &#8211; Hồ</em>, trong <em>Tuyển tập 40 năm tạp chí Văn học, 1960 &#8211; 1999</em>, tập 2, Tp. Hồ Chí Minh: Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1999, tr. 231-232</span></span></span></p>
<p class="MsoFootnoteText" style="margin: 12pt 0cm 12pt 40px; text-align: justify; line-height: 120%;">
</div>
</div>
</div>
<div class="clear"></div>
</div>
<div id="page-24" class="tab-content-small">
<div class="text">
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Về lịch sử trường thừa</span></span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="line-height: 115%; font-size: 14px; font-family: arial;">Dẫu sao, thiền phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông thành lập đã có người kế thừa. Trong thời gian từ khi được truyền y bát cho đến lúc mất vào năm 1330, tất cả nỗ lực của Pháp Loa tập trung chủ yếu vào việc quy y và trao giới cho những người tại gia cũng như xuất gia, khai sơn chùa Quỳnh Lâm và chùa Tư Phúc cùng hơn 20 am chùa khác và đặc biệt cho tiến hành chép cũng như in </span><em style="line-height: 115%; font-size: 14px; font-family: arial;">Đại Tạng kinh</em><span style="line-height: 115%; font-size: 14px; font-family: arial;">. Bản thân Pháp Loa là tác giả của tối thiểu 9 tác phẩm, đó là </span><em style="line-height: 115%; font-size: 14px; font-family: arial;">Tham thiền kỷ yếu, Kim Cương tràng đà la ni kinh khoa chú, Niết Bàn đại kinh khoa sớ, Pháp Hoa kinh khoa sớ, Lăng già tứ quyển khoa sớ, Bát nhã tâm kinh khoa sớ, Hưng vương hộ quốc nghi quỷ, Pháp sự khoa văn và Độ môn trợ thành tập</em><span style="line-height: 115%; font-size: 14px; font-family: arial;">. Ngoài ra ông còn trực tiếp giảng dạy nhiều nơi, nhất là nhiều lần được mời giảng dạy kinh Hoa Nghiêm.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Đây là một chi tiết cần chú ý, vì thứ nhất, nó chứng tỏ thiền phái Trúc Lâm không từ bỏ kinh điển, càng không tập trung vào việc tham cứu công án hay thoại đầu. Việc học tập và diễn giải kinh điển được nâng lên thành một bộ phận trọng yếu của sinh hoạt thiền Phật giáo. Điều này có nét tương tự với thiền học Huệ Năng, trong đó các kinh điển vẫn được coi trọng và giải thích theo hướng mới của thiền. Tuy nhiên, nếu Huệ Năng chỉ quan tâm đến kinh <em>Pháp hoa</em> hay <em>Niết Bàn</em>, thì dòng thiền Trúc Lâm từ vị tổ thứ nhất là vua Trần Nhân Tông trở đi, kinh <em>Hoa nghiêm</em> đã có một vị thế tư tưởng xung yếu. Ta cần nhớ đến bài kệ trước lúc mất của vua Nhân Tông:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Nhất thiết pháp bất sanh </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Nhất thiết pháp bất diệt </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Nhược năng như thị giải </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Chư Phật thường hiện tiền </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Hà khứ lai chi hữu</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">(Tất cả pháp không sinh </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Tất cả pháp không diệt </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Nếu hiểu được như vầy </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Chư Phật thường trước mặt </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Đi đến sao có đây)</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="line-height: 115%; font-size: 14px; font-family: arial;">Là bài kệ, mà bốn câu đầu rút trực tiếp ra từ kinh </span><em style="line-height: 115%; font-size: 14px; font-family: arial;">Hoa nghiêm</em><span style="line-height: 115%; font-size: 14px; font-family: arial;">.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Thứ hai, nội dung kinh <em>Hoa nghiêm</em> trình bày quá trình đi tìm chân lý của từng con người, mà điển hình là đồng tử Thiện Tài với 53 cuộc tham vấn của mình. 53 cuộc tham vấn này được mô tả dưới nhiều dạng khác nhau, từ dạng thế tục nhất với những chi tiết nam nữ ân ái cho đến dạng siêu thoát nhất qua những tư tưởng chân xác về quan hệ giữa các sự vật với nhau, mà ngày nay mỗi khi đọc tới ta cảm thấy hết sức gần gũi. Tính phổ biến của kinh <em>Hoa nghiêm</em> vào lúc ra đời của thiền phái Trúc Lâm này không phải là tình cờ ngẫu nhiên. Nó xuất hiện càng làm rõ thêm tư tưởng <em>Cư trần lạc đạo</em> và phù hợp với tư trào phát triển tư tưởng <em>Cư trần lạc đạo</em> thành một lối sống mới trong sinh hoạt Phật giáo Việt Nam.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Phải nói rằng sự xuất hiện hệ tư tưởng Hoa Nghiêm đã manh nha từ thời thiền sư Thường Chiếu (? -1203) với chủtrương tùy tục của vị thiền sư này. Căn cứ vào <em>Thiền uyển tập anh</em>, để trả lời câu hỏi <em>“pháp thân hiện khắp mọi nơi là thế nào</em>” của một thiền sinh, Thường Chiếu đã lấy hai đoạn văn từ phẩm <em>Như Lai xuất hiện</em> trong bản kinh Hoa Nghiêm 80 cuốn do Thật Xoa Nan Đà dịch.<sup>1</sup> Ta cũng cần nhớ rằng Thường Chiếu là thầy của Thông Thiền (?-1228). Và Thông Thiền theo<em> Lược dẫn thiền phái đồ</em> trong <em>Thượng sĩ ngữ lục</em> tờ 5b6 -7b1 là người đã thành lập nên “tông môn” Trúc Lâm, mà ta có thể trình bày qua đồ hình sau:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 240px;"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Thông Thiền</span></span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 240px;"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">     ↓</span></span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 240px;"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Tức Lự</span></span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 240px;"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">     ↓</span></span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 240px;"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Ứng Thuận</span></span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 240px;"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">     ↓</span></span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 240px;"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Tiêu Dao</span></span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 240px;"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">     ↓</span></span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 240px;"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Tuệ Trung</span></span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 240px;"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">     ↓</span></span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 240px;"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Vua Trần Nhân Tông</span></span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 240px;"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">     ↓</span></span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 240px;"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Pháp Loa</span></span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 240px;"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">     ↓</span></span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 240px;"><strong><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Huyền Quang</span></span></span></strong></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Tư tưởng kinh <em>Hoa nghiêm</em> có thể nói là một loại lý thuyết hệ thống, trong đó mọi tồn tại chỉ tồn tại trong tương quan nào đó với các tồn tại khác. Không bao giờ có một sự tồn tại tự thân, độc lập bên ngoài các tồn tại khác. Dưới ảnh hưởng của một lý thuyết như thế, tất nhiên Thường Chiếu phải đặt mọi hoạt động của cuộc đời mình, mà cụ thể là các hoạt động Phật giáo, vào trong một hệ thống nhất định, một khung cảnh thời đại nhất định. Cho nên, ta không lạ gì khi Thường Chiếu đưa ra chủ trương tùy tục, trong khi trả lời câu hỏi của Thần Nghi (?-1216) về “<em>hòa thượng cũng sống theo thế tục sao?”</em>. Các dòng thiền Pháp Vân và Kiến Sơ đến cuối thời Lý cũng đã bắt đầu xuất hiện các gương mặt cư sĩ thiền sư, đặc biệt là dòng thiền Kiến Sơ với Thông Thiền. Thông Thiền, như đã biết, được <em>Lược dẫn thiền phái đồ</em> coi là người sáng lập ra tông môn Trúc Lâm Yên Tử. Bản thân Thông Thiền là một cư sĩ. Đến Ứng Thuận cũng thế. Và đây rõ ràng là do tác động mạnh mẽ của tư tưởng kinh <em>Hoa nghiêm</em>. Tuệ Trung Trần Quốc Tung trong các bài thơ của mình cũng đã nhắc đến kinh này. Thí dụ, bài <em>Thị chúng</em>, Tuệ Trung đã nói đến việc học tập theo gương Thiện Tài đồng tư,ý khi đối mặt với tiền nhân.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Thế gian nghi vọng bất nghi chân </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Chân vọng chi tâm diệc thị trần </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Yếu đắc nhất cao siêu bỉ ngạn </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Hảo tham Đồng Tử đối tiền nhân </span></em><sup><span style="line-height: 115%;">(<a title="" name="_ftnref1" href="#_ftn1"></a><!--[if !supportFootnotes]--><sup><span style="line-height: 115%;">[1]</span></sup><!--[endif]-->)</span></sup></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">(Thế gian thích vọng chẳng ưa chân </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Chân vọng lòng kia cũng pháp trần </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Cốt được vượt cao qua bến ấy </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Khéo tham Đồng Tử gặp tiền nhân)</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Chính xuất phát từ tư tưởng <em>Hoa nghiêm</em> này, mà lần đầu tiên các phạm trù đối lập nhau trong tư tưởng nhân loại như có và không, thị và phi, phải và trái mới được giải quyết một cách căn bản. Có và không chỉ tồn tại trong một tương quan nào đó. Chẳng có cái có tuyệt đối cũng như chẳng có cái không tuyệt đối. Nếu nhìn dưới góc độ tư tưởng <em>Hoa nghiêm</em>, có và không chỉ là hai mặt của một vấn đề. Chúng không đối lập loại trừ lẫn nhau. Cái có chỉ biết là có vì nó liên hệ với cái không có. Và cái không có cũng thế. Cho nên, vua Trần Nhân Tông trong buổi giảng tại chùa Sùng Nghiêm vào tháng 12 năm Giáp Thìn 1304, đã cho rằng: Vì người ta quên khái niệm có, không trong một liên hệ như thế, nên khi bàn luận thì giống như người chỉ nhìn thấy ngón tay mà không thấy mặt trăng, như kẻ ôm cây đợi thỏ, như người đi tìm ngựa mà dựa theo bản đồ:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Câu không câu có </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Chẳng có chẳng không </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Khắc thuyền tìm gươm </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Bản đồ kiếm ngựa </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Câu có câu không </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Đắp đổi hay không </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Nón tuyết giày bông </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Ôm cây đợi thỏ </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Câu có câu không </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Từ nay từ xưa </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Quên trăng giữ ngón </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Chết đuối trên bờ. </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">(Hữu cú vô cú </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Phi hữu phi vô </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Khắc chu cầu kiếm </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Sách ký án đồ </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Hữu cú vô cú </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Hổ bất hội hổ </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Lạp tuyết hài hoa </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Thủ chu đãi thố </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Hữu cú vô cú </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Từ cổ từ kim </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Chấp chỉ vong nguyệt </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Bình địa lục trầm) </span></span></span></p>
<div>
<p style="margin-left: 40px;"><!--[if !supportFootnotes]--></p>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<p><a style="font-family: arial; line-height: 120%; text-align: justify;" title="" name="_ftn1" href="#_ftnref1"></a><span class="MsoFootnoteReference"><span style="line-height: 120%;"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="line-height: 115%;">[1]</span></span></span></span><span style="font-family: arial; line-height: 120%; text-align: justify;"> Lê Mạnh Thát, <em>Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh</em>, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1999, tr. 239 và 481-482.</span></p>
</div>
</div>
<div class="clear"></div>
</div>
<div id="page-25" class="tab-content-small">
<div class="text">
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Kinh<em> Hoa nghiêm</em> và tư tưởng <em>Hoa nghiêm</em> như vậy đã trở thành một nguồn suối tư tưởng mới cho không chỉ Phật giáo Lý &#8211; Trần khai thác. Nó còn trở thành một lý thuyết phổ quát cho những người lãnh đạo quốc gia Đại Việt nhìn về đất nước cũng như xã hội mình trong tương quan với các đất nước, xã hội khác cùng thời, mà đỉnh cao là sự ra đời của chính dòng thiền Trúc Lâm. Ngày nay, mọi người đều đồng ý trong lịch sử dân tộc ta chưa bao giờ có một triều đại nào có chính sách thân dân như triều Trần, đặc biệt là của ba triều vua Thái Tông, Thánh Tông va Nhân Tông. Ta có thể thấy nguồn gốc của tư tưởng thân dân này, ngoài truyền thống dân tộc, đã xuất phát từ chính hệ tư tưởng kinh <em>Hoa nghiêm</em>. Và cũng có thể nói chưa bao giờ trong lịch sử Phật giáo Việt Nam kinh <em>Hoa nghiêm</em> lại được diễn giải như ở thời đại từ vua Trần Nhân Tông trở về sau, khi phái thiền Trúc Lâm bắt đầu xuất hiện trên vũ đài văn hóa dân tộc.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Pháp Loa mất vào năm 1330. Trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời Pháp Loa có sự hiện diện của Huyền Quang. Nhưng đến lúc ấy thì Huyền Quang cũng già lắm rồi, gần gấp đôi tuổi của Pháp Loa. Cho nên, dù về sau, nhất là khi <em>Tam tổ thực lục</em> ra đời do Tính Quảng và Ngô Thời Nhiệm tập hợp các tư liệu rời rạc để hình thành nên bộ sách viết về Trúc Lâm tam tổ, truyền thuyết về sự tồn tại của ba vị tổ dòng thiền Trúc Lâm được phổ biến rộng rãi, ta phải thấy dòng thiền này không chỉ giới hạn trong ba vị tổ ấy. Bên cạnh Huyền Quang mất vào năm 1334, tức chỉ sau Pháp Loa 4 năm và thọ đúng 80 tuổi, ta còn có những đệ tử khác của Pháp Loa như Cảnh Huy, Cảnh Ngung, Huệ Chúc và đặc biệt là Kim Sơn.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Kim Sơn là người được vua Trần Minh Tông không những coi là vị thiền sư <em>“được cốt tủy của Phổ Huệ</em>”, như <em>Thánh đăng ngữ lục</em> tờ 38b4-5 đã ghi, mà còn được vị vua này suy tôn làm <em>Trúc Lâm tam đại thiền tổ</em>, khi ông sắp mất vào năm 1358. <em>Thánh đăng ngữ lục</em> tờ 38b7-39a6 đã viết về sự kiện này như sau: “<em>Vua sắp băng hà, có kệ trình Kim Sơn nói: Đệ tử không ở trong bệnh cảnh gửi cho thiền tổ đời thứ ba Trúc Lâm. Đệ tử ôm bệnh muốn cả tuần. Đêm nằm, ngày uống thuốc, không ăn một hạt cơm, nhưng hạt hạt đều nhai hết. Nếu có người hỏi vị nó thế nào thì đáp chẳng có vị gì hết, lại xin trình bài kệ:</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Chứa thuốc muốn trị bệnh </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Không bệnh đâu dùng thuốc </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Nay có cơm không hạt </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Người không miệng nhai hết </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Lại viết thư mời Kim Sơn đến tăng phòng Động Tiên xem bệnh</span></em><span style="line-height: 115%;">”.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Vậy nói tới vị tổ thứ ba của dòng thiền Trúc Lâm, ta phải kể tới Kim Sơn, chứ không phải Huyền Quang. Trong các tư liệu hiện còn, trừ sách <em>Tam tổ thực lục ra</em>, không có bất cứ tư liệu nào gọi Huyền Quang là tam đại thiền tổ cả, mà chỉ gọi là<em> “tự pháp</em>”, tức nối dõi dòng pháp của Pháp Loa. Cần chú ý là Niên phổ của Pháp Loa trong <em>Tam tổ thực lục</em> tờ 19a6 đã gọi Pháp Loa là “<em>Trúc Lâm đệ nhị đại</em>”. Việc vua Trần Minh Tông gọi thiền sư Kim Sơn là Trúc Lâm tam đại thiền tổ, do thế, chính thức coi Kim Sơn là người kế thế dòng thiền Trúc Lâm cho đến ít nhất là năm 1358, khi vua Trần Minh Tông mất. Dòng thiền Trúc Lâm sau cái chết của Huyền Quang năm 1334 vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ dưới sự ngoại hộ của triều đình nhà Trần.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Việc trình bày lịch sử phát triển của thiền phái Trúc Lâm qua ba vị tổ Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang có thể nói là một sáng tạo đặc biệt của Phật giáo Việt Nam thế kỷ thứ 18, khi Tính Quảng và người học trò của mình là Hải Lượng Ngô Thời Nhiệm đã sao trích những mảng tư liệu khác nhau, để tập hợp lại và cho ra đời sách <em>Tam tổ thực lục</em>. Nghiên cứu nội dung sách này, ta thấy tiểu sử của Trần Nhân Tông là một trích chép lại nguyên văn từ <em>Thánh đăng ngữ lục</em>, không có thêm bớt gì. Chỉ ở cuối sách, có một đoạn phụ lục trích từ <em>“Quốc sử</em>” về việc sư Trí Thông đốt cánh tay khi vua Trần Nhân Tông xuất gia và đến khi vua mất thì vào hầu tháp ở núi Yên Tử. Tiểu sử của Pháp Loa là một bản sao lại <em>Niên phổ</em> của Pháp Loa khắc trên bia tháp Viên Thông vào năm Đại Trị Nhâm Dần (1362) hiện còn tại chùa Thanh Mai trên núi Tam Ban của xã Hoàng Hoa Thám, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương ngày nay.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Còn tiểu sử của Huyền Quang là một sao lại từ bản <em>Tổ gia thực lục</em>. Bản sách này có lịch sử khá ly kỳ. Khi quân Minh tạm chiếm nước ta vào những năm 1407-1428, chúng vơ vét sách vở đưa về Kim Lăng, trong đó có bản <em>Tổ gia thực lục</em>. Theo lời ghi cuối sách thì <em>“Tổ gia thực lục này khoảng năm Tuyên Đức (1426-1435) của nhà Đại Minh, thượng thư Hoàng Phúc nhận được đem về nước Minh. Trải năm tháng, thường mơ thấy nhà sư kêu khiến gửi trả về bản quốc. Con cháu chưa có được dịp gửi về nhân cầu đảo lập chùa ở làng mình để phụng thờ. Hễ có cầu đảo thì rất có linh ứng, đề tên chùa là chùa An Nam, thiền sư Huyền Quang. Đến khoảng năm Gia Tĩnh (1522-1558) Tô Xuyên Hầu đi sứ nước đại Minh. 19 năm sứ giả mới trở về. Cháu bốn đời của Hoàng Phúc là Hoàng Thừa Tổ làm quan đưa tiễn, lại mơ thấy sư biểu trả bản Gia lục về. Bèn gửi cho Tô Xuyên Hầu đem về, nhân kể lại việc kia lúc này còn đang được phụng thờ tại nước Minh.. Trình Tuyền Hầu đến mừng sứ về, bèn lấy sách đem về nhà. Sau đó Trình Tuyền Hầu có làm bài Giải trào văn”.</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Ngoài lời phụ chú vừa dịch, bản in năm Thành Thái thứ 9 của <em>Tam tổ thực lục</em> cũng có một lời giải bày của Ngô Thì Sĩ ở cuối sách tờ 62a1-63b6 có nhan <em>đề Huyền Quang hành giải</em> và được ghi chú là trích từ <em>Ngô gia văn phái:</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;"> “Việc làm ra mà mọi người giống nhau, nếu có người khác, thì liền nghi. Còn lời nói ra mà mọi người không giống nhau, nếu có một người chủ trì thì tin. Thế tục bàn bạc không căn cứ đã lâu rồi, nên ghi ra thì không thể không nghiên cứu.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Sư Huyền Quang là người thời Trần, tu đạo ở chùa Hoa Yên núi Yên Tử, có hiệu là Trúc Lâm Đệ Tam Tổ. Việc tu trì giới định thì không có bằng chứng gì. Kẻ hiếu sự truyền rằng sư đã đậu trạng nguyên rồi mới trở về với đạo Phật. Anh Tông nghi ngờ sư chưa thành thật, lén sai cung nữ thử, quả lấy được vàng ròng mà vua đã ban để đem về. Người ta theo đó mà làm ra phú và truyện để ghi thật lại sự việc. Nên sự chân tu của sư rốt cuộc không thể rõ ràng được.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Gần đây ông Nguyễn làng Cổ Đô</span></em><sup><span style="line-height: 115%;">(<a title="" name="_ftnref1" href="#_ftn1"></a><!--[if !supportFootnotes]--><sup><span style="line-height: 115%;">[1]</span></sup><!--[endif]-->)</span></sup><em><span style="line-height: 115%;"> viết hạnh, bắt đầu cắt bỏ những chỗ thừa dư để sửa khác lại, cũng chỉ nói đến sự thật là sự từ bỏ vinh hoa và ngộ đạo. Còn đến lời vu cáo phá giới, lẽ có không thì chưa từng được biện bác xác thực.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Phàm mày ngài đãy thúy là chuyện người ta yêu nhất ở trong cung. Mà chỉ vì không tin nên thử, thì há có chuyện bỏ cái mình yêu nhất để thử người mình không tin ư? Một người con gái mặt hồng, muôn dặm núi xanh, việc đó là muôn phần không rõ ràng rồi. Giả như có đi nữa, cửa tùng đêm vắng, án thiền canh thâu, thì mới đem việc gặp đức Di Lặc Thế Tôn mà trả lời. Lời gái thêu dệt bên ngoài chẳng phải là chỗ đáng nghe của nhà sư. Vốn là trong sạch chay tịnh mà nhất đán có tiếng người làm dơ lỗ tai, sư riêng không thể làm anh chàng nước Lỗ chẳng được ư? chẳng thể chống lại ư? Một cõi rừng thiền, há không có nhà riêng, chỗ đáng cho con gái nghỉ ngơi sao? Tre gầy hoa xuân, đã không thể thăm lúc mới vào, thì lòng hoa đào, mình xinh đẹp lại chịu lén lút đi quanh thềm sao? Lòng như tro bụi, mà một sáng vì không người để mắt, lơ đễnh giữ gìn, sư lại không thể học theo chỗ được của Liễu Hạ Huệ ư? Sư cố nhiên chẳng thích vàng, người kia mới đem cái sắc đẹp khuynh thành ra mà nhử ta, lặng lẽ quan sát để làm thương tổn đến lòng thương cho vàng mà rơi vào cái bả của nó, mà tự chuốc lấy sự dơ dáy đối với lễ. Mỗi sáng sư tắm Phật, giao vàng tức giao mình cho con gái. Sư tuy từ bi, há chịu giao danh tiếng mình cho những lời sàm báng không giải thích được ư?</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Ban đầu thì vì bị mê hoặc bởi tiếng nói yêu kiều mà cho ở gởi. Thế rồi nhận được sắc đẹp thuyền quyên mà cùng chuyện vãn với người ta, để cuối cùng vì thích vui trước những lời xảo khéo, mà đem vàng giao cho. Đủ biết mấy chuyện ấy thì vết lòng của sư cũng không thể làm rõ được. Do thế, càng biện bạch cho sư thì càng làm cho sư thêm lụy.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Nay tôi sống cách xa sư không biết mấy trăm năm. Nghĩ đến việc giải quyết những nghi ngờ do miệng ngoa truyền của thế tục, há không thể đem gia phổ, thi ca của sư để làm công án ư? Cứ vào niên phổ của sư, thì sư là người của hương Vạn Tải thuộc Vũ Ninh của Bắc Giang hà lộ. Nhà ở phía đông nam chùa Ngọc Hoàng. Thỉ tổ là Lý Ôn Hòa làm quan dưới triều Lý Thần Tông. Sáu đời thì đến Quang Dụ làm chuyển vận sứ của triều Trần. Quang Dụ sinh 4 trai, út tên Tuệ Tổ. Sư tức cháu của Tuệ Tổ. Mẹ có thai 12 tháng mới sinh, mà đã dĩnh ngộ khác thường, nên đặt tên Tải Đạo. Chín tuổi giỏi thuộc văn chương. 21 tuổi đậu khoa Đại Tỉ, tiếp sứ có công.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Thường theo vua đi chơi chùa Vĩnh Nghiêm huyện Phượng Nhãn, nghe Pháp Loa thuyết pháp mà đại ngộ. Bèn dâng biểu xin xuất gia, được ban pháp hiệu Huyền Quang, trú trì chùa Hoa Yên núi Yên Tử, học đồ hơn ngàn người. Vua Nhân Tông phê vào sách Khoa giáo do sư giải thích, có câu: “Đã qua tay Huyền Quang rồi thì một chữ cũng không thể thêm bớt”. Sư được người đời đương thời tôn trọng như thế. Thơ của sư thì thấy các tập Ngọc Tiên, Trích diễm, Việt âm, có các câu ‘Nhất lãnh thuế y, Bán gian thạch thất’ cùng với ‘Đức bạc thường tàm kế tổ đăng’, cho đến ‘Dĩ thị thành thiền tâm nhất phiến, Cũng thanh tức tức vị thùy đa’. Khí chất núi rừng khói ráng thể hiện trong ngôn từ. Con người đạm bạc giản dị đơn sơ, tưởng cũng có thể thấy được. Thì đâu có cái chuyện nói năng không gốc gác như thế tục đã ngoa truyền?</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Hoặc có người nói: Thế thì nên bỏ bản hạnh ấy chăng? Xin trả lời: Không thể. Giới hạnh của nhà sư rất cao, thì việc sống lôi thôi, lo cưới gả càng khó nói. Sự việc của sư đã rõ ràng, thì chuyện mâm tỏi thành đồ chay trở nên vớ vẩn. Nhà vắng đem ra mà xét lại, thì có thể nói rằng: vua Trần nhiều lần sai thử sư mà sư không thể phạm, Trúc Lâm Tam Tổ thế mà cam tâm được sao?</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Năm Tân Mùi Cảnh Hưng triều Lê (1751), chánh tiến sĩ đốc trấn Ngô Thì Sĩ, hiệu Ngọ Phong Công, làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai soạn ”.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Qua hai lời ghi cuối sách <em>Tam tổ thực lục</em> tờ 60a5-b8 này, ta biết bản Tổ gia thực lục, mà Tính Quảng và Ngô Thời Nhiệm đã sao chép vào trong <em>Tam tổ thực lục</em> là một bản sách do Tô Xuyên Hầu Lê Quang Bí đem từ Trung Quốc về vào năm 1569. Trình Tuyền Hầu Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1580) có đọc bản <em>Thực lục</em> mới được đem về này và viết <em>Giải trào văn</em>. Sau đó bản văn đã được Ngô Thỉ Sĩ, cha của Ngô Thời Nhiệm, sao chép và viết lời phụ chú. Căn cứ vào lời giải trình của Ngô Thì Sĩ, ta có thể giả thiết quá trình hình thành <em>Tam tổ thực lục</em> đã diễn ra như sau. Thứ nhất, xuất phát từ bản <em>Tổ gia thực lục</em> có trong tủ sách của cha mình, Ngô Thời Nhiệm đã lấy đọc và thấy cuối bản <em>Tổ gia thực lục này</em> Huyền Quang được thụy là “Trúc <em>Lâm thiền sư đệ tam đại, đặc phong tự pháp Huyền Quang tôn giả”.</em> Từ đó, Ngô Thời Nhiệm đã nảy sinh ý nghĩ xây dựng một tác phẩm mang tên <em>Tam tổ thực lục. </em>Rồi thì Ngô ThờI Nhiệm đã đem y ữnghĩ này trình bày với Tính Quảng. Tính Quảng có thể là vị bổn sư đã trao pháp danh Hải Lượng cho Ngô Thời Nhiệm, nếu ta căn cứ vào pháp danh của hai người này đã được đặt theo một dòng kệ truyền pháp của phái Trí Bảng Đột Không thuộc dòng Lâm Tế:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Trí tuệ thanh tịnh </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Đạo đức viên minh </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Chân như tín hải </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Tịch chiếu phổ thông </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Tâm nguyên quảng tục </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Bản giác xương long </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Năng nhân thánh quả </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Thường diễn khoan hoằng </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Duy truyền pháp ấn </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Chứng ngộ hội dung </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Kiên trì giới hạnh </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Vĩnh thiệu tổ tông </span></em></span></span><em></em></p>
<div>
<p style="margin-left: 40px;"><!--[if !supportFootnotes]--></p>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<p><a style="font-family: arial;" title="" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftnref1">[1]</a><span style="font-family: arial;"> Ông Nguyễn làng Cổ Đô, tức chỉ Nguyễn Bá Lân (1701-1785), nguyên người xã Cổ Đô, huyện Tiên Phong, tỉnh Sơn Tây cũ, đậu tiến sĩ năm 1731, làm quan đến chức Thượng thư tước Lễ Trạch Hầu, có biệt tài về phú Nôm, tác phẩm có </span><em style="font-family: arial;">Ngã ba hạc phú, Giai cảnh hứng tình phú</em><span style="font-family: arial;"> và </span><em style="font-family: arial;">Vịnh sử thi quyể</em><span style="font-family: arial;">n. </span><em style="font-family: arial;">Bản hạnh</em><span style="font-family: arial;"> viết về Huyền Quang hiện chưa tìm thấy.</span></p>
</div>
</div>
<div class="clear"></div>
</div>
<div id="page-26" class="tab-content-small">
<div class="text">
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Sau khi trình bày với Tính Quảng, một kế hoạch đã hình thành. Đó là lấy phần tiểu sử của Trần Nhân Tông trong <em>Thánh đăng ngữ lục</em> và bản <em>Niên phổ</em> khắc trên bia đá dựng trước tháp Viên Thông của Pháp Loa tại chùa Thanh Mai cùng với bản <em>Tổ gia thực lục </em>để tạo nên sách <em>Tam tổ thực lục</em> ta hiện có cùng với một số đoạn phiến các tác phẩm của ba vị tổ vừa nêu này đang nằm rơi rớt tại các chùa biết dưới tên <em>Thiền đạo yếu học.</em> Từ khi sách <em>Tam tổ thực lục</em> ra đời, khái niệm ba vị tổ này càng được truyền bá rộng rãi và củng cố thêm với sự xuất hiện của <em>Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh </em>mà bản in sớm nhất là vào năm Cảnh Thìn thứ 3 (1795). Trong phần mở đầu của <em>Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh</em>, Ngô Thời Nhiệm đã trình bày về tiểu sử ba vị tổ thiền phái Trúc Lâm là vua Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang, rồi sau đó Ngô Thời Nhiệm viết về bản thân mình và gọi là “<em>Trúc Lâm đệ tứ tôn”.</em></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Từ <em>Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh</em> nhìn ngược lên cho đến năm 1765, khi <em>Tam tổ thực lục</em> lần đầu tiên được in bán, ta thấy giả thiết về quá trình ra đời của <em>Tam tổ thực lục </em>trên không phải là hoàn toàn vô lý, và sự tham gia của Ngô Thời Nhiệm vào sự hình thành tác phẩm ấy hoàn toàn không phải là vô chứng cớ. Tuy nhiên, với ảnh hưởng của Ngô Thời Nhiệm cùng một loạt các thiền sư của dòng thiền Trúc Lâm do Ngô Thời Nhiệm phục hồi như thiền sư Hải Âu Vũ Trinh (1726 -1823), Hải Hòa Nguyễn Đăng Sở, Hải Huyền Ngô Thì Hoành, Hải Điền Nguyễn Hữu Đàm v.v.. Đây là những tên tuổi lớn, những trí thức lớn của thời đại, xuất thân từ những danh gia vọng tộc của nửa cuối thế kỷ thứ 18. Do ảnh hưởng và uy tín của các thiền sư trí thức lớn này thuộc thiền phái Trúc Lâm và khái niệm Trúc Lâm tam tổ đã trở nên phổ biến và được chấp nhận, dẫn đến những cái nhìn lệch lạc về sự phát triển của dòng thiền này.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Thực tế, như ta đã thấy, Huyền Quang, ngoại trừ <em>Tổ gia thực lục</em>, chưa bao giờ được gọi là Trúc Lâm tam đại thiền tổ. Ngược lại, đây là mỹ hiệu mà vua Trần Minh Tông đã dùng trước khi băng hà để gọi thiền sư Kim Sơn. Vậy thì tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm phải là Kim Sơn, chứ không phải là Huyền Quang. Trước đây, chúng tôi đã đề xuất ý kiến và chứng minh rằng Kim Sơn có khả năng đã viết <em>Thiền uyển tập anh</em>, bộ lịch sử Phật giáo thiền tông Việt Nam đầu tiên sau Chiếu đối bản của Thông Biền (?-1134), <em>Chiếu đối lục</em> của Biện Tài và <em>Nam tông tự pháp đồ</em> của Thường Chiếu. <em>Thánh đăng ngữ lục</em> ngày nay không thấy ghi ai viết ra. Nhưng căn cứ vào nội dung cũng như văn phong, ta có thể giả thiết người viết bộ sách này cũng không ai khác hơn là Kim Sơn. Ngoài ra<em>, Cổ châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục</em> cũng có thể do Kim Sơn viết.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Như thế có thể nói, vào giữa thế kỷ thứ 14, cả một cao trào nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt </span></span></span><span style="font-size: 10.0pt; mso-bidi-font-size: 11.0pt; line-height: 115%; font-family: 'Arial','sans-serif';"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;">Nam</span></span><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"> đã bùng nổ. Và Kim Sơn như một vị thiền sư nổi bật dưới triều vua Minh Tông chắc chắn đã chủ trì công tác sưu tầm và viết nên ba bộ sử Phật giáo vừa nói. Điều đáng tiếc là cho đến nay ta chưa có bất cứ thông tin gì mới mẻ về vị thiền sư này, ngoài những gì đã chép trong <em>Thánh đăng ngữ lục</em>. Dẫu thế, ta có thể chắc chắn ít nhất là cho đến những năm 1358 thiền phái Trúc Lâm đang có những hoạt động mạnh mẽ ở triều đình cũng như nơi thôn xóm. Có khả năng bản khắc <em>Niên phổ</em> trên bia dựng trước tháp Viên Thông của Pháp Loa là do chính Kim Sơn thực hiện. Vấn đề tại sao đến năm 1362, bản Niên phổ của Pháp Loa mới được khắc vào bia đá và dựng trước tháp của Pháp Loa? Phải chăng trong thời gian Minh Tông còn sống, việc dựng bia có vấn đề gì chăng?</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Dẫu sao đi nữa, sau khi Minh Tông mất, Kim Sơn phải sống thêm một thời gian nữa. Và vì những người kế nghiệp của Minh Tông như Dụ Tông thì chỉ ăn chơi sa đọa, hay Nghệ Tông thì lại quá nhút nhát do dự, nên hào khí Đông A đã tàn lụi dần. Từ đó, những ngọn “<em>đèn thánh</em>” đã không được ai chép tiếp nữa. Điều này có nghĩa những người có uy tín và danh vọng lớn như thiền sư Kim Sơn đã mất dưới triều Dụ Tông. Nói thẳng ra, thiền sư Kim Sơn có thể đã mất vào khoảng những năm 1365 -1370. Từ khoảng năm mất này, ta có thể suy ra năm sinh của Kim Sơn vào khoảng thời gian trước và sau năm1300 không bao xa, để có thể làm đệ tử của Pháp Loa trước khi Pháp Loa mất vào năm 1330.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Dòng thiền Trúc Lâm từ sau Kim Sơn trở đi chắc chắn phát triển mạnh mẽ. Ngay tại Côn Sơn với chùa Tư Phúc do Pháp Loa và Huyền Quang cùng xây dựng nên, ta đã thấy sự hiện diện của các nhà sư làm thơ tìm đến tư đồ Trần Nguyên Đán để hỏi chữ, như một bài thơ của vị tư đồ này nói tới:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Thập niên chính tỉnh phụ thu đăng, </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Tùng hạ hành ngâm ỷ sấu đằng. </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Tùy mã vọng trần vô tục khách, </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Khấu môn vấn tự hữu thi tăng. </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Thoái nhàn Lục Dã tri hà cập? </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Tán cấp Thanh miêu tạ bất năng. </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Tọa đãi công thành danh toại hậu, </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Nhất khâu lão cốt dĩ lăng tằng. </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">(Mười năm chính sự phụ đèn thu, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Chống gậy hàng thông lặng đọc thư, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Theo ngựa trông mù không khách tục, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Hỏi thơ gõ cửa có thiền sư. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Lui về Lục Dã khi nào kịp, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Ban phát Thanh miêu thế phải từ, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Ngồi đợi công thành danh đã toại, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Một gò xương trắng chất cao chừ).</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Còn Phạm Nhân Khanh, mà ta có dịp gặp trong <em>Thánh đăng ngữ lục</em> tờ 37a6, khi vua Trần Minh Tông sai đưa thư cho thiền sư Huyền Quang, chắc chắn là trước năm 1334, trong một bài thơ đưa quốc sư Lãm Sơn về núi cũng đã nói đến vị quốc sư này nổi danh với những bài thơ:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Xuất san kỷ nhật cánh hoàn san, </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Vị ái san cư ý tự nhàn. </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Tùng viện chữ trà hương mạc mạc </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Hạc tuyền tẩy bát thủy sàn sàn. </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Phóng khai thiền giá cao thiên cổ, </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Phát lộ thi danh chính nhất ban. </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Qui hướng lĩnh vân thâm xứ ngọa, </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Âm thi pháp vũ tẩy nhân gian. </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">(Xuống núi mấy ngày lại trở lên, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Vì yêu ở núi ý thênh thênh, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Viện tùng trà nấu thơm ngào ngạt, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Suối hạc bát chùi nước láng lênh. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Rộng mở giá thiền cao vạn thuở, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Nổi danh thơ phú chính riêng mình. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Trở về mây núi nơi sâu thẳm, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Lặng vãi mưa thiền rửa chúng sinh.) </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;"> </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Và đặc biệt khi quân Chiêm Thành dưới sự lãnh đạo của Chế Bồng Nga đã liên tiếp trong nhiều năm tiến đánh thủ đô Thăng Long, thì một đội quân gồm những người xuất gia đã được thành lập dưới sự chỉ huy của thiền sư Đại Than. Thiền sư này tên thật và pháp hiệu gì ta hiện không truy ra được. <em>ĐVSKTT</em> 8 tờ 4b8 &#8211; 5a1 chỉ ghi: “<em>Tháng ba</em> (năm Tân Dậu Xương Phù thứ năm &#8211; 1381<em>) sai quốc sư Đại Than đốc suất các tăng nhân trong nước, và các tăng nhân không có độ điệp ở rừng núi, người nào khỏe mạnh, tạm thời làm lính đi đánh Chiêm Thành</em>”. Và Phạm Nhân Khanh đã làm bài thơ ca ngợi vị thiền sư Đại Than và đội quân những người xuất gia của ông chứ không cho biết gì thêm:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Đại than thiền tướng tùng lâm hổ </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Lão khí hùng thôn thập vạn phu </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Trực thụ thần phan my địch lũy, </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Khinh đề tuệ kiếm tiễn hung đồ. </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Lâm phong mật tụng kỳ quân chú, </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Hướng nhật liên thư phá tặc phù. </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Tảo sấn công danh suyền tấu khải, </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><em><span style="line-height: 115%;">Lăng Yên thiêm họa quốc sư đồ.</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">(Đại Than thiền tướng, cọp rừng thiền, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Khí mạnh nuốt trơn muôn vạn binh, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Dựng thẳng phan thần, san lũy địch, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Nhẹ đưa gươm tuệ, diệt hung quân. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Gió qua niệm chú cầu quân thắng, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Trời nhắm họa bùa phá địch thành. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Sớm bước công danh nhanh báo tiệp, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Lăng Yên thầy nước vẽ nên tranh).</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Có thể nói đây là lần đầu tiên và duy nhất trong lịch sử dân tộc những nhà sư đã được sử dụng như những người lính phục vụ chiến trường. Đây hẳn là vang bóng của thời kỳ chiến tranh vệ quốc vào những năm 1285 và1288, mà các thiền sư cư sĩ nổi danh như Tuệ Trung với tư cách là Hưng Ninh Vương đã cùng với em mình là Trần Hưng Đạo tiến quân giải phóng Thăng Long vào mùa xuân năm 1285. Từ đó, việc thành lập đội quân nhà sư do thiền sư Đại Than chỉ huy vào năm 1381 chứng tỏ thiền phái Trúc Lâm vào cuối thế kỷ 14 đã phát triển rầm rộ.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Thực tế, bên cạnh đội quân của thiền sư Đại Than, <em>ĐVSKTT</em> 8 tờ 16b8 &#8211; 17a7 còn ghi lại cuộc khởi nghĩa do thiền sư Phạm Sư Ôn lãnh đạo tại Quốc Oai. Phạm Sư Ôn chắc chắn cũng phải thuộc thiền phái Trúc Lâm. Vì như <em>Lược dẫn thiền phái đồ</em> đã ghi, từ đầu thế kỷ thứ 14 chỉ có “<em>tông môn</em>” của phái thiền Trúc Lâm Yên Tử là còn phát triển mạnh mẽ, những phái khác đều đã tiêu vong. Đến nửa cuối thế kỷ thứ 14, đặc biệt là sau những đợt tổ chức thọ giới do Pháp Loa thực hiện mà con số đã lên tới một vạn rưỡi người tính cho đến năm 1329. Với số lượng tăng ni được thọ giới như thế, các chùa chiền của quốc gia Đại Việt chắc hẳn do những vị tăng ni trụ trì. Cho nên Phạm Sư Ôn thuộc về dòng thiền Trúc Lâm là một điều khá dễ hiểu. Thế nhưng, tiểu sử của Phạm Sư Ôn cho đến nay vẫn chưa được nhìn nhận đúng đắn, thậm chí có người bôi bác coi đây là một cuộc nổi loạn chống lại triều đình và một cuộc nổi loạn do một nhà sư cầm đầu. Sự thật, đây là một biểu hiện tích cực của tinh thần Phật giáo Trúc Lâm, tinh thần <em>“ngay thờ chúa, thảo thờ cha, đi đỗ mới trượng phu trung hiếu”.</em> Nếu Đại Than vì nạn nước mà theo lệnh triều đình đứng ra tổ chức quân đội và chỉ huy, thì Phạm Sư Ôn cũng vì nỗi khổ của dân, mà phải đứng lên khởi nghĩa. Đây là một nét đặc biệt của Phật giáo Việt </span></span></span><span style="font-size: 10.0pt; mso-bidi-font-size: 11.0pt; line-height: 115%; font-family: 'Arial','sans-serif';"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;">Nam</span></span><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;">, Phật giáo Việt </span></span><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;">Nam</span></span><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"> không gắn bó tuyệt đối với một triều đại nào, dù triều đại đó do Phật giáo dựng lên hay lãnh đạo. Phật giáo chỉ gắn bó và trung thành với quyền lợi dân tộc, quyền lợi dân chúng. Vào những năm 60 của thế kỷ thứ 14, triều đình nhà Trần do Trần Dụ Tông đứng đầu đã ăn chơi sa đọa nên không những không chăm lo cuộc sống của người dân, mà còn coi thường nỗi khổ của họ. Đứng trước sự lầm than cơ cực của dân chúng, một bộ phận người Phật giáo thời Trần không chỉ tỏ thái độ một cách tiêu cực theo lối </span></span><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;">Chu</span></span><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"> Văn An, bằng cách dâng sớ can vua, vua không nghe thì bỏ về nhà không hợp tác. Ngược lại, họ tỏ thái độ một cách tích cực bằng cách cùng với dân đứng lên cầm vũ khí, báo cho triều đình biết phải có những thay đổi cơ bản để cho đời sống người dân được khá lên. Đây phải nói là thái độ mẫu mực của Phật giáo Việt Nam, mà tinh thần <em>Cư trần lạc đạo</em> của thiền phái Trúc Lâm đã có công gầy dựng nên.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Tất nhiên, có người hỏi thái độ mẫu mực này có phản ảnh trung thực tinh thần giáo lý Phật giáo hay không? Và có người sẽ đứng lên trả lời ngay theo những suy nghĩ chủ quan của bản thân họ là một thái độ như thế không phản ảnh trung thực tinh thần giáo lý của đạo Phật, giống như trước đây có kẻ bạo gan, đã viết: “<em>Chỉ một việc các nhà sư tham gia chính trị, hoặc giả chỉ việc thầy tu làm thơ, tôi nghĩ đó cũng là một điều không đúng với giáo chỉ Thích Ca cho lắm, không đúng với giáo lý hư vô tịch diệt”</em><sup> (<a title="" name="_ftnref1" href="#_ftn1"></a><!--[if !supportFootnotes]--><sup><span style="line-height: 115%;">[1]</span></sup><!--[endif]-->)</sup>. Khi viết như thế, không biết họ đã dựa vào căn cứ kinh điển nào hay chỉ là một phản ảnh huyễn hoặc những suy nghĩ chủ quan của họ về nhà sư, rồi phóng đại lên thành những câu nói vô bằng, bừa bãi. Cả 100 năm nghiên cứu Phật giáo trên thế giới, nhiều vấn đề đã được đặt ra, mà trong đó quan trọng nhất là vấn đề đức Phật đã dạy những gì. Nhiều trường phái Phật học ra đời để trả lời cho câu hỏi vừa nêu, nổi bật nhất là ba trường phái Anh &#8211; Đức, Pháp &#8211; Bỉ và Nga. Thế mà có những người tưởng mình nắm được “<em>giáo chỉ Thích Ca”</em> rồi ăn nói vu vơ vung vít. Cho nên, không thể nói về giáo lý Phật giáo một cách dễ dàng như bao nhiêu người lầm tưởng. Từ xưa, nhiều người đã diễn tả tình trạng học tập nghiên cứu khó khăn giáo lý Phật giáo này với câu “<em>Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan, ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”</em>(dựa kinh giải nghĩa thì oan cho ba đời đức Phật, rời kinh một chữ thì giống với thuyết ma). </span></span></span></p>
<div>
<p style="margin-left: 40px;"><!--[if !supportFootnotes]--></p>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<p><span style="font-size: 12px;"><a title="" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftnref1">[1]</a> Đặng Thai Mai, <em>Mấy điều tâm đắc về một thời đại văn học</em>, trong Thơ văn Lý &#8211; Trần, I, Hà nội: Nxb. KHXH, 1977, tr. 42.</span></p>
</div>
</div>
<div class="clear"></div>
</div>
<div id="page-27" class="tab-content-small">
<div class="text">
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Dẫu sao đi nữa thì trong lịch sử Phật giáo Việt </span></span></span><span style="font-size: 10.0pt; mso-bidi-font-size: 11.0pt; line-height: 115%; font-family: 'Arial','sans-serif';"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Nam</span></span><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"> các đội quân phò giúp hoặc chống lại triều đình tương đối không nhiều. Và hầu như đây là những trường hợp cá biệt, đột xuất, do tình thế quá bức bách mà phát sinh. Vai trò của Phật giáo rộng lớn hơn nhiều trong lịch sử Việt </span></span><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">Nam</span></span><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;">, đó là vai trò văn hóa, vai trò di phong dịch tục. Chính vai trò này đã tạo cơ hội cho Phật giáo để lại dấu ấn rất sâu đậm trong dòng lịch sử ấy. Vào những năm cuối thế kỷ thứ 14, vai trò này của Phật giáo vẫn tiếp tục nổi bật. Ta có thể minh chứng điều này qua các sự việc sau. Đó là trường hợp thiền sư Đạo Khiêm đã giảng học cho người anh hùng Nguyễn Trãi, mà sau này Nguyễn Trãi ghi lại việc mình đã từng được giảng học hơn mười năm trời, và từng ngồi thưởng thức cảnh núi non hùng vĩ của Côn Sơn, như ông mô tả trong bài thơ đưa nhà sư Đạo Khiêm về núi:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Ký tằng giảng học thập dư niên </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Kim hựu tương phùng nhất dạ niên </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Thả hỷ trần trung phao tục sự </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Tiện tầm thạch thượng thoại tiền duyên. </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Minh triêu Linh phố hoàn phi tích </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Hà nhật Côn Sơn cọng thính tuyền </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Lão khứ cuồng ngôn hưu quái ngã </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Lâm kỳ ngã diệc thượng thừa thiền. </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">(Nhớ từng giảng học ngoại mười niên, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Nay lại gặp nhau ngủ một đêm, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Việc tục trong mơ mừng được rũ, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Duyên xưa trên đá đến hàn huyên. </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Sáng mai Linh Phố quay đầu gậy, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Ngày não Côn Sơn lắng suối rền, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Già đến nói ngông đừng lạ tớ, </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Chia tay tớ cũng thượng thừa thiền).</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Thế rõ ràng, Nguyễn Trãi và thiền sư Đạo Khiêm đã từng sống với nhau tại chùa Tư Phúc ở Côn Sơn. Và vị thiền sư này chắc chắn đã từng giảng cho Nguyễn Trãi học về nhiều môn khác nhau tại ngôi chùa đó, trong đó có cả thiền Phật giáo thuộc loại cao siêu nhất là thượng thừa thiền. Nguyễn Trãi làm bài thơ ấửy vào lúc ông đã già, sau khi đất nước thu hồi độc lập, Lê Lợi đã lên ngôi và Nguyễn Trãi chưa trở về sống những ngày ẩn dật tại Côn Sơn vào giữa những năm 1435 -1442. Và vị thiền sư Đạo Khiêm của chúng ta, nhân một công việc gì đó đã đến Thăng Long và khi công việc xong, tình cờ gặp Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi đã khẩn khoản mời thiền sư về nhà mình ngủ lại một đêm để hàn huyên tâm sự, mà chắc hẳn bao nhiêu năm xa cách Côn Sơn đã làm Nguyễn Trãi nhớ nhung người và cảnh. Vị thiền sư ở chơi với Nguyễn Trãi một đêm, rồi sáng sớm hôm sau phải trở gót quay về chùa mình. Nguyễn Trãi đã bộc lộ lòng tiếc nuối và cuối cùng khi chia tay đã tự nhủ lòng mình cũng như bảo với nhà sư là ông sẽ bước theo con đường thiền thượng thừa, mà truyền thống thiền Trúc Lâm đã vạch ra và chắc chắn thiền sư Đạo Khiêm đã nói tới.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Nguyễn Trãi sinh năm 1380 và đã già khi viết bài thơ trên vào khoảng những năm 1435. Do thế, vị thiền sư Đạo Khiêm của chúng ta phải sinh ra trước Nguyễn Trãi ít nhất là mươi lăm năm để có thể giảng cho Nguyễn Trãi học trong hơn mười năm, khi Nguyễn Trãi sống tại nhà ông ngoại mình là tư đồ Trần Nguyên Đán ở Côn Sơn, tức khoảng những năm 1386 cho đến trước năm1400, lúc Nguyễn Trãi dự khóa thi thái học sinh đầu tiên của triều đại nhà Hồ và đã đỗ. Nói khác đi, Đạo Khiêm phải sinh vào khoảng năm 1370 và có thể sống tiếp ở Côn Sơn ngay cả sau khi vụ án Lệ chi viên xảy ra vào năm 1442. Niên đại của thiền sư Đạo Khiêm do thế rơi vào giữa những năm 1370 -1445.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Đồng thời với Đạo Khiêm ta có một vị thiền sư khác biết dưới tên Viên Thái, người đã dịch tác phẩm <em>Cổ châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục</em> của thiền sư Kim Sơn ra tiếng Việt quốc âm. Niên đại của vị thiền sư này cho đến ngày nay vẫn chưa được xác định. Tuy nhiên, qua lối dịch đuổi và cách dùng chữ cho phép ta giả thiết Viên Thái không thể sống muộn hơn năm 1550. Thêm vào đó, vì Pháp Tính đã diễn <em>Cổ châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục</em> ra thơ, nên có người đã đề nghị giả thiết là bản dịch của Viên Thái với tư cách một bản dịch văn xuôi tất phải xuất hiện trước bản dịch thơ được giả thiết là của Pháp Tính. Và Pháp Tính thì sống vào khoảng giữa những năm 1470 -1550. Điều này có nghĩa Viên Thái phải sống trước niên đại đó.<sup> (<a title="" name="_ftnref1" href="#_ftn1"></a><!--[if !supportFootnotes]--><sup><span style="line-height: 115%;">[1]</span></sup><!--[endif]-->)</sup></span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Ngoài ra hiện còn được bảo lưu một bản dịch bằng tiếng quốc âm kinh <em>Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng </em>mà qua phân tích những chứng cứ nội tại cho phép ta phải đặt bản dịch này vào nửa đầu thế kỷ thứ 15. Chẳng hạn việc viết chữ húy tên vua Lê Thái Tổ. Đây là một điểm chỉ cho thấy bản in được xuất hiện trước khi vua Lê Thánh Tông giải tỏa về việc viết kỡ húy vào năm 1469. Bản dịch cũng như bản in <em>Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng</em> kinh phải ra đời trong khoảng những năm 1428 -1469. Một lần nữa bản dịch tiếng quốc âm bản kinh này lại được thực hiện theo lối dịch đuổi. Văn phong và ngữ cú của nó có nhiều nét tương tự với bản dịch tiếng quốc âm <em>Cổ châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục.</em> Vì thế, người ta có thể giả thiết hai bản dịch này cùng xuất phát từ một người, nghĩa là cùng do Viên Thái thực hiện. Từ đó niên đại của Viên Thái phải rơi vào khoảng những năm 1400 -1460.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Sau Viên Thái ta có thiền sư Hương Chân Pháp Tính (1470-1550?), tác giả bộ từ điển Hán Việt xưa nhất hiện còn biết dưới tên <em>Chỉ nam học âm giải nghĩa</em> và có khả năng đã diễn ca <em>Cổ châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục</em> thành ra thơ lục bát tiếng Việt. Giống như phần lớn các vị thiền sư của thiền phái Trúc Lâm, Pháp Tính từ trẻ đã học hành thành công, ra đời giúp nước giúp dân, đến khi già thì xuất gia:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Trẻ từng vả đấng khoa danh </span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Già lên cõi thọ tìm duềnh Bụt tiên</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Chính trong thời gian xuất gia này, ông đã bước theo chân của vị tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông vĩ đại, đó là phải làm cái gì lợi ích cho đời cho người. Thế là ông đã lao vào nghiên cứu tình hình văn tự của tiếng Việt có phần rườm rà khó học, nên tự bản thân mình đề xuất một lối chữ quốc âm dễ học, dễ nhớ và dễ viết. Hơn nữa, ông còn đấu tranh bác bỏ quan điểm cho rằng văn tự tiếng quốc âm không phải là chữ thánh hiền, là một thứ “<em>nôm na cha mách qué</em>” và xác lập văn tự tiếng quốc âm như một văn tự của thánh hiền:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Nói nôm tiếng thị tiếng phi</span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Đến lập văn tự lại y thánh hiền&#8230;</span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Soạn làm chữ cái chữ con</span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">San bản lưu truyền ai đặc thì thông&#8230;</span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;"> </span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Vốn xưa làm nôm xe chữ kép</span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Người thiếu học khôn biết khôn xem</span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Bây chừ nôm dạy chữ đơn</span></em></span></span><em></em></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 80px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><em><span style="line-height: 115%;">Cho người mới học nghĩ xem nghĩ nhuần</span></em></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Cả một cao trào dùng văn tự quốc âm để sáng tác và ghi chép trong các ngành học thuật khác nhau từ thơ ca văn chương cho đến khoa học y dược đã phát triển sau thời Pháp Tính. Ta có Thọ Tiên Diễn Khánh (1550 -1620?) viết <em>Nam Hải Quan Âm Phật sự tích ca,</em> Minh Châu Hương Hải (1628 -1715) giải thích kinh điển bằng tiếng.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Việt quốc âm qua hơn 20 đầu sách, mà hiện nay ta đã tìm lại nguyên vẹn được 4 tác phẩm. Rồi Chân Nguyên, Như Trừng, Như Thị, Tính Quảng, Hải Lượng, Hải Âu, Hải Hòa, Hải Huyền, An Thiền v.v.. Đặc biệt là Chân An Tuệ Tĩnh (?-1711) người không chỉ nêu cao chủ trương và bản thân mình đã thực hiện “<em>dùng thuốc nam trị người nước Nam”,</em> mà còn công bố những công trình khoa học của mình bằng tiếng Việt quốc âm. Đây là những người tự nhận mình thuộc thiền phái Trúc Lâm vào những thế kỷ 16, 17, 18, 19 và có những đóng góp to lớn không chỉ đối với Phật giáo Việt Nam, mà còn đối với dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng đất nước.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">Thiền phái Trúc Lâm, sau khi Huyền Quang mất vào năm 1334, như thế, vẫn được liên tục kế thừa với những khuôn mặt anh tài có những đóng góp to lớn và nhiều mặt cho dân tộc, chứ không phải là “<em>thời hưng thịnh chấm dứt</em>”, như trước đây nhiều người đã lầm tưởng. Tất nhiên, sự lầm tưởng này có nguồn gốc xa xưa của nó, tối thiểu là từ khi Tính Quảng và Ngô Thời Nhiệm công bố <em>Tam thổ thực lục</em> vào năm 1765,và nhất là sau khi Ngô Thời Nhiệm cho ra đời <em>Tam tổ hành trạng</em> trong <em>Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh</em> của mình. Tuy vậy, vào giữa thế kỷ thứ 19, khi viết <em>Đại Nam thiền uyển kế</em> <em>đăng lược lục</em> và in vào khoảng năm 1858, An Thiền đã ghi danh sách 23 vị thiền sư liên tục trụ trì sơn môn Yên Tử:</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">1.<span style="line-height: normal;">     </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">Hiện Quang tổ sư</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">2.<span style="line-height: normal;">     </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">Viên Chứng quốc sư </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">3.<span style="line-height: normal;">     </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">Đại Đăng quốc sư </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">4.<span style="line-height: normal;">     </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">Tiêu Dao tổ sư </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">5.<span style="line-height: normal;">     </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">Huệ Tuệ tổ sư </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">6.<span style="line-height: normal;">     </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">Nhân Tông tổ sư </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">7.<span style="line-height: normal;">     </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">Pháp Loa tổ sư </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">8.<span style="line-height: normal;">     </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">Huyền Quang tổ sư </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">9.<span style="line-height: normal;">     </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">An Tâm quốc sư </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">10.<span style="line-height: normal;">  </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">Phù Vân (hiệu Tĩnh Lự) quốc sư </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">11.<span style="line-height: normal;">  </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">Vô Trước quốc sư </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">12.<span style="line-height: normal;">  </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">Quốc Nhất quốc sư </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">13.<span style="line-height: normal;">  </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">Viên Minh tổ sư </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">14.<span style="line-height: normal;">  </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">Đạo Huệ tổ sư </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">15.<span style="line-height: normal;">  </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">Viên Ngộ tổ sư </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">16.<span style="line-height: normal;">  </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">Tổng Trì quốc sư </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">17.<span style="line-height: normal;">  </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">Khuê Thám quốc sư </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">18.<span style="line-height: normal;">  </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">Sơn Đằng quốc sư </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">19.<span style="line-height: normal;">  </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">Hương Sơn đại sư </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">20.<span style="line-height: normal;">  </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">Trí Dung quốc sư </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">21.<span style="line-height: normal;">  </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">Tuệ Quang tổ sư </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">22.<span style="line-height: normal;">  </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">Chân Trú tổ sư </span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 120px; text-indent: -18pt;"><!--[if !supportLists]--> <span style="font-family: arial;"><span style="font-size: 14px;"><span style="line-height: 115%;">23.<span style="line-height: normal;">  </span></span><!--[endif]--><span style="line-height: 115%;">Vô Phiền đại sư.</span></span></span></p>
<div>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<p><span style="font-size: 12px;"><span style="font-family: arial;"><a style="line-height: 120%; text-align: justify;" title="" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftnref1">[1]</a><span style="line-height: 120%; text-align: justify;"> Xem Lê Mạnh Thát, </span><em style="line-height: 120%; text-align: justify;">Viên Thái thiền sư toàn tậ</em><span style="line-height: 120%; text-align: justify;">p, Sai gòn: Tu thư Vạn Hạnh, 1977</span></span></span></p>
</div>
</div>
<div class="clear"></div>
</div>
<div id="page-28" class="tab-content-small">
<div class="text">
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Bản danh sách này có người chép ra đầy đủ và gọi là “<em>truyền thống Yên Tử”<sup>,</sup></em><sup> (<a title="" name="_ftnref1" href="#_ftn1"></a><!--[if !supportFootnotes]--><sup><span style="line-height: 115%;">[1]</span></sup><!--[endif]-->)</sup> nhưng không tìm hiểu xem danh sách truyền thống ấy có một giá trị lịch sử gì không. Sau đó, có người lại dẫn và cho là “<em>tính chân xác của toàn bộ danh sách này thật đáng ngờ. Trật tự trước sau của các thế hệ ở đây xem ra không đáng tin cậy.”<sup>.</sup></em><sup> (<a title="" name="_ftnref2" href="#_ftn2"></a><!--[if !supportFootnotes]--><sup><span style="line-height: 115%;">[2]</span></sup><!--[endif]-->)</sup> Dẫu vậy, họ cũng thừa nhận các thế hệ trước Nhân Tông có thể dùng để tham khảo được, vì rõ ràng <em>Thiền uyển tập anh</em> đã ghi thiền sư Hiện Quang (?-1221) từng sống ở núi Yên Tử. Rồi đến khi vua Trần Thái Tông lên Yên Tử vào năm 1236, thì <em>Thiền tông chỉ nam tự </em>ghi là vua gặp “<em>quốc sư Trúc Lâm đại sa môn</em>”, trong khi đó <em>ĐVSKTT</em> 5 tờ 9b9 chép là vua gặp Phù Vân quốc sư. Còn <em>Thánh đăng ngữ lục</em> tờ 8b4, <em>Thiền tông bản hạnh </em>và <em>Đại Nam thiền uyển kế đăng lược lục</em> đều ghi là vua Trần Thái Tông đã gặp quốc sư Viên Chứng. Vì <em>Thiền uyển tập anh</em> có ghi đệ tử của Hiện Quang tên là Đạo Viên, nên người ta thường đồng nhất Viên Chứng với Đạo Viên.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Nếu quả thực Viên Chứng và Đạo Viên đều là tên của Phù Vân quốc sư, ta có thể chắc chắn Viên Chứng đã sống cho tới những năm 1278. Bởi vì, theo <em>Thánh đăng ngữ lục</em> tờ 4a5 khi vua Trần Thái Tông sắp mất, vua Thánh Tông đã “<em>sai hai quốc sư Phù Vân và Đại Đăng diễn thuyết pháp xuất thế gian</em>” cho vua Thái Tông, nhưng đã bị vua khước từ. Do thế, nếu Đại Đăng kế thừa Phù Vân trụ trì tại sơn môn Yên Tử, thì chắc chắn cũng phải từ năm 1278 trở đi, nếu không muốn nói là sau hơn nữa.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Kế tiếp Đại Đăng, theo bản danh sách của An Thiền kể trên, là tổ sư Tiêu Dao. Vị tổ sư này chắc chắn không phải là đệ tử của Đại Đăng, <em>vì Lược dẫn thiền phái đồ</em> trong <em>Thượng sĩ ngữ lục</em> đã ghi Tiêu Dao là học trò đắc pháp của cư sĩ Ứng Thuận. Và Tiêu Dao phải mất trước năm 1291, khi Tuệ Trung qua đời. Lý do, trong số 49 bài thơ còn lại của Tuệ Trung có 4 bài liên hệ tới Tiêu Dao. Đó là <em>Vấn Phúc Đường đại sư tật, Thượng Phúc Đường Tiêu Dao thiền sư, Phúc Đường cảnh vật và Điếu tiên sư</em>. Đặc biệt là bài <em>Điếu tiên sư </em>đã chỉ cho biết Tiêu Dao phải mất trước năm 1291 để cho Tuệ Trung phải viết bài thơ viếng thầy vừa nói.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;">Kế thừa Tiêu Dao tại Yên Tử là tổ sư Huệ Tuệ. Huệ Tuệ là ai? Trong số những đệ tử của Tiêu Dao có tên ghi tại </span><em style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;">Lược dẫn thiền phái đồ</em><span style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;">, không thấy có tên nào là Huệ Tuệ cả. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào cách đồng nhất Đạo Viên với Viên Chứng, ta có thể đồng nhất Huệ Tuệ với Tuệ Trung, dù bản thân Tuệ Trung là danh tướng Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung. Hơn nữa, người kế thừa Huệ Tuệ trong bản danh sách trên lại là Điều Ngự Trần Nhân Tông. Có khả năng Tuệ Trung trụ trì sơn môn Yên Tử không? Chính hành trạng của Tuệ Trung do vua Trần Nhân Tông viết trong </span><em style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;">Thượng sĩ ngữ lục </em><span style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;">đã ghi nhận vua Trần Thánh Tông đã tôn Tuệ Trung làm sư huynh của mình. Đã thế, thì rõ ràng Tuệ Trung hoàn toàn có khả năng làm trụ trì sơn môn Yên Tử. Việc vua Nhân Tông kế thừa Tuệ Trung làm trụ trì sơn môn này là một việc dĩ nhiên, dù Tuệ Trung đã mất 4 năm, trước khi Nhân Tông xuất gia, bởi vì vua Nhân Tông đã được Tuệ Trung ấn chứng từ những năm 1278, như chính vua đã kể lại trong bản </span><em style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;">Hành trạng </em><span style="line-height: 115%; font-family: arial; font-size: 14px;">vừa nói. Sau vua Trần Nhân Tông là Pháp Loa và Huyền Quang.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Vậy đúng là tám đời đầu tiên của bản danh sách trên, nếu ta kể luôn cả Pháp Loa và Huyền Quang, mà tiểu sử và niên đại rất minh bạch, không có vấn đề gì quá khiên cưỡng. Thế còn 15 đời còn lại có vấn đề gì không? Sự nghi ngờ về tính chân xác của bản danh sách ấy chủ yếu chỉ dựa vào sự trùng tên của một vài người trong số 15 vị thiền sư này. Cụ thể, tên của vị thiền sư đời thứ 12 là Quốc Nhất quốc sư có tên trùng với thiền sư Quốc Nhất, đệ tử của thiền sư Ứng Thuận. Và tên của vị thiền sư đời thứ 19 là Hương Sơn đại sư lại trùng tên với một đệ tử của Điều Ngự Trần Nhân Tông. Dĩ nhiên Hương Sơn của Điều Ngự không thể nào kế thừa truyền thống Yên Tử đời thứ 19 được.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Việc trùng tên của hai vị trong bản danh sách đó đáng ra không nêu lên những nghi ngờ vừa nói, vì sự trùng tên, đặc biệt là tên đạo của những vị thiền sư rất thường xảy ra trong lịch sử Phật giáo của mỗi nước cũng như giữa các nước Phật giáo. Trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc, có trường hợp trùng tên nổi tiếng của Tuệ Viễn (334-417) đời Tấn với Tuệ Viễn của đời Ngụy cách nhau trên cả trăm năm. Ở nước ta việc trùng tên cũng khá nhiều. Chẳng hạn, ta có thiền sư Mãn Giác (1052-1096) đời Lý với thiền sư Mãn Giác đời Lê Trung Hưng, vị thầy đã trao giới cho Chân Nguyên Tuệ Đăng (1647 -1726), hay Minh Châu Hương Hải của thế kỷ thứ 17 trùng tên với một vị cũng nổi tiếng không kém, thậm chí cùng có chung quê quán nữa, tức cùng là gốc người Nghệ An cả. Còn nhiều nữa mà ta không thể kể hết ra đây. Vì thế, nếu gặp sự trùng tên của các vị thiền sư, đặc biệt ở những thời điểm khác nhau, ta không cần phải nêu lên những nghi ngờ quá đáng.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Ngoài ra, nếu 8 đời đầu của bản danh sách trên là đáng tin cậy, thì ta thử nghiên cứu đời cuối của bản danh sách xem thế nào. Đời cuối là thiền sư Vô Phiền, ta hiện chưa có một dữ kiện gì để xác định niên đại cụ thể. Tuy nhiên, đời kế cuối, tức đời 22 ghi tên tổ sư Chân Trụ thì rõ ràng là thiền sư Minh Nguyệt Chân Trụ, vị thầy đầu tiên của thiền sư Chân Nguyên Tuệ Đăng. Dù Chân Nguyên không ghi rõ lại Chân Trụ mất vào năm nào, nhưng ta biết Chân Nguyên xuất gia vào năm 19 tuổi. Vậy Chân Trụ phải còn sống cho tới những năm 1665. Và Chân Nguyên cũng cho biết sau khi đắc pháp với Chân Trụ không lâu thì Chân Trụ qua đời. Từ đó Chân Nguyên đã đến xin thọ giới tỳ kheo với Minh Lương Mãn Giác. Vậy Chân Trụ phải sống vào khoảng những năm 1600 &#8211; 1670.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Sự có mặt của Chân Trụ trong bản danh sách ấy chứng thực cho tính chính xác của nó. Truyền thống Yên Tử, như vậy, được nối tiếp liên tục, từ thời Huyền Quang cho đến Vô Phiền, tức từ năm 1200 -1700. Có người sẽ hỏi sau Vô Phiền tại sao không thấy ghi thêm tên của một vị thiền sư nào nữa cho đến thời An Thiền, tức từ năm 1700-1850. An Thiền không ghi thêm tên người nào nữa vào danh sách đó vì An Thiền đã ghi tên họ ở một nơi khác. Đó là N<em>gự chế thiền điển thống yếu kế đăng lục </em>của Như Sơn, mà An Thiền viết tiếp phần các thế hệ truyền thừa của Chân Nguyên với các thiền sư Như Trừng, Tính Tuyền, Hải Quýnh, Tịch Truyền, Chiếu Khoan và Phổ Tịnh., dù đây không phải là những người trực tiếp ở Yên Tử nữa.</span></span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-left: 40px;"><span style="font-size: 14px;"><span style="font-family: arial;"><span style="line-height: 115%;">Như vậy, dòng thiền Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông thành lập đã có những tác động to lớn đối với lịch sử dân tộc và Phật giáo và được kế thừa liên tục thậm chí cho đến ngày nay. Đây không những là một dòng thiền do một người Việt Nam sáng lập, mà dòng thiền này còn có những điểm đặc biệt về học lý và thực tiễn tu tập, mà ta đã vạch ra ở trên, nhằm đáp ứng lại yêu cầu phát triển của lịch sử dân tộc. Dòng thiền này đúng ra phải có một nghiên cứu riêng độc lập mới có thể làm rõ nhiều vấn đề về lịch sử và học lý. Chúng tôi chỉ trình bày sơ lược nhân khi đề cập đến những cống hiến to lớn của vua Trần Nhân Tông đối với lịch sử dân tộc và Phật giáo nước ta. Một nghiên cứu độc lập như thế sẽ có tác dụng điều chỉnh những nhận thức sai lầm về lịch sử cũng như học lý của dòng thiền này hiện vẫn đang tồn tại. </span></span></span></p>
<div>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<p style="margin-left: 40px;"><!--[endif]--></p>
<div id="ftn1">
<p><a title="" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftnref1">[1]</a> Nguyễn Lang, <em>Việt Nam Phật giáo sử luận</em>, Sài gòn: Lá bối, 1974, tr. 397-398.</p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-size: 12px;"><a title="" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftnref2">[2]</a> Viện Triết học, <em>Lịch sử Phật giáo Việt Nam</em>, Hà Nội: Nxb. KHXH, 1991, tr. 224.</span></p>
<p class="MsoNormal">
</div>
<div id="ftn2"></div>
</div>
</div>
<div class="clear"></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://trannhantong.net/2013/03/thien-phai-truc-lam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Vị trí văn học của Trần Nhân Tông</title>
		<link>http://trannhantong.net/2013/03/vi-tri-van-hoc-cua-tran-nhan-tong/</link>
		<comments>http://trannhantong.net/2013/03/vi-tri-van-hoc-cua-tran-nhan-tong/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 17 Mar 2013 14:08:25 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Những tác phẩm của Trần Nhân Tông]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://trannhantong.net/?p=1032</guid>
		<description><![CDATA[Tiếng nói của dân tộc ta chắc chắn tồn tại từ lâu lắm rồi. Nhưng phải tới cuối thời kỳ triều đại Hùng Vương, tức vào khoảng những thế kỷ trước và sau tây lịch, ta mới có một số thông tin về tiếng nói này qua bài Việt ca và một số cấu trúc được tìm thấy trong Lục độ tập kinh và Tạp thí dụ kinh. ([1]) Đặc biệt hai bản kinh vừa nói có khả năng đã [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div id="page-1112" class="tab-content-small" style="display: block;">
<div class="text">
<div><span><span>Tiếng nói của dân tộc ta chắc chắn tồn tại từ lâu lắm rồi. Nhưng phải tới cuối thời kỳ triều đại Hùng Vương, tức vào khoảng những thế kỷ trước và sau tây lịch, ta mới có một số thông tin về tiếng nói này qua bài <em>Việt ca</em> và một số cấu trúc được tìm thấy trong <em>Lục độ tập kinh</em> và <em>Tạp thí dụ kinh</em>. <sup>(<a title="" name="_ftnref1" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn1"></a><sup>[1]</sup>)</sup> Đặc biệt hai bản kinh vừa nói có khả năng đã tồn tại như những bản kinh tiếng Việt đầu tiên mà ta hiện biết, và đã lưu hành vào những thế kỷ đầu sau tây lịch, tối thiểu cho tới lúc Khương Tăng Hội (? &#8211; 280) dịch ra tiếng Trung Quốc. Vào thời điểm này, tiếng Việt đã phát triển phong phú và đa dạng, đến nỗi Sĩ Nhiếp (137-226) tương truyền đã viết bộ từ điển Hán Việt đầu tiên được biết, đó là C<em>hỉ nam phẩm vựng</em> hai cuốn. Đà phát triển này vẫn tiếp tục tới cuối thế kỷ thứ tư với sự ra đời các tác phẩm có thể coi như tự điển chữ Việt và cách thức ghi âm chữ Việt biết dưới tên <em>Tá âm</em> và <em>Tá âm tự</em> của <em>Đạo Cao</em> (370 -450?) (<a title="" name="_ftnref2" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn2"></a><sup><sup>[2]</sup></sup>). </span></span></div>
<div></div>
<div><span>Rồi sau đó tiếng Việt như một văn tự vẫn tiếp tục được sử dụng mạnh mẽ. Dân ta đã dùng tên Bố Cái Đại Vương để gọi cho người anh hùng Phùng Hưng.Và khi nền độc lập dân tộc được phục hưng, các triều đại có khả năng đã dùng tiếng Việt để ban bố các mệnh lệnh hành chánh của triều đình cho dân chúng. Ta có thể mạnh dạn đưa ra giả thiết này nhờ vào một sự cố giữa hàn lâm phụng chỉ Đinh CủngViên và hành khiển Lê Tòng Giáo năm 1288, theo đó có lệ cũ là phải viết và đọc chiếu chỉ của vua bằng hai thứ tiếng, tiếng Việt và tiếng Hán. Như thế, đến giữa thế kỷ thứ 13 tiếng Việt như một văn tự đã thực hiện mọi chức năng của nó. Điều bất hạnh là do thiên tai và địch họa, hàng loạt các tác phẩm viết bằng tiếng nói của dân tộc ta từ những bản kinh đầu tiên như <em>Lục độ tập kinh</em> và các bản chiếu chỉ của nhà vua cho đến các tác phẩm văn học như <em>Tiều ẩn quốc ngữ thi tập</em> của Chu Văn An đã bị tán thất. </span></div>
<div></div>
<div><span>Bài thơ tiếng Việt tương truyền đầu tiên hiện biết là bài Giáo trò cho các buổi hát chèo thường được gắn cho tên tuổi của thiền sư Đạo Hạnh (? -1117). Vì đây là một bài thơ ngắn chỉ gồm 32 chữ và vấn đề văn bản học vẫn chưa được xác định rõ ràng, cho nên nhiều nghi vấn đã đặt ra. Chỉ đến thời vua Trần Nhân Tông, với hai tác phẩm của mình là <em>Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca</em> cùng <em>Vịnh Vân Yên tự phú</em> của Huyền Quang (1254 -1334) và Giáo tử phú của Mạc Đĩnh Chi (1284 -1361), nền văn học tiếng Việt mới có những tác phẩm đầu tiên hoàn chỉnh của mình còn được bảo tồn đến ngày nay. Vị trí văn học của vua Trần Nhân Tông do thế đối với dân tộc ta rất là vĩ đại. </span></div>
<div></div>
<div><strong><strong><span>Phú Cư trần lạc đạo</span></strong></strong>&nbsp;</p>
</div>
<div></div>
<div><span>Không phải là một ngẫu nhiên của lịch sử mà vinh dự này thuộc về con người Trần Nhân Tông. Phần trên, ta đã thấy sự nghiệp và con người vua Trần Nhân Tông, một sự nghiệp văn trị và võ công quá lớn lao, đến nỗi qua thời gian và sự phá hoại của kẻ thù vẫn không làm phai mờ đi được trong tâm thức của những người dân Việt. Chính họ đã giữ gìn các tác phẩm văn học ấy cho ta, trong số hàng trăm hàng ngàn các tác phẩm tiếng Việt khác đã ra đời cùng thời với chúng, mà bây giờ ta chỉ biết tên, chứ không biết chúng có nội dung cụ thể là gì. Nói khác đi, công ơn của Trần Nhân tông đối với dân tộc ta quá sâu đậm, nhờ thế những tác phẩm như <em>Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca</em> đã được trân trọng và giữ gìn. </span></div>
<div></div>
<div><span>Thế nhưng, không phải chỉ vì công ơn và uy tín cá nhân của vua Trần Nhân Tông, mà hai tác phẩm ấy được trân trọng và giữ gìn. Hai tác phẩm đó được trân trọng và giữ gìn còn vì giá trị nội tại của bản thân chúng, đặc biệt là <em>Cư trần lạc đạo phú</em>. Có thể nói <em>Cư trần lạc đạo phú</em> là một bản tuyên ngôn của con đường sống đạo, mà Phật giáo Việt Nam đã đề ra và đã chi phối cuộc sống của hàng triệu triệu người Phật tử Việt Nam thời vua Trần Nhân Tông và những thế kỷ sau. Nó cũng là một trong số ít tác phẩm Phật giáo Việt Nam được trích dẫn đích danh như một quyền uy, khi thiền sư Chân Nguyên trình bày những vấn đề Phật giáo cho vua Lê Chính Hòa vào khoảng những năm 1692 trong<em> Kiến tính thành Phật lục</em>.<sup> (<a title="" name="_ftnref3" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn3"></a><sup><span>[3]</span></sup>)</sup> Vì thế tư tưởng của <em>Cư trần lạc đạo </em>phú đã giúp một phần nào cho sự tồn tại của nó trong quá trình truyền đạt. </span></div>
<div></div>
<div><span>Ít lắm là trong khoảng 300 năm trở lại đây, thế kỷ nào Cư trần lạc đạo phú và <em>Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca</em> cũng đều được in và phổ biến rộng rãi. Bản in xưa nhất chúng ta hiện còn là bản in năm 1745 do sa di ni Diệu Liên vâng lệnh thầy mình in lại và bản gỗ lưu lại chùa Liên Hoa ở kinh đô Thăng Long. Nó được in kèm chung sau tác phẩm <em>Thiền tông bản hạn</em>h của Chân Nguyên ở những tờ 47 -57. Trong bản in này có kèm theo <em>Vịnh Hoa Yên tự phú</em> của Huyền Quang và Ngộ đạo nhân duyên kệ của chính Chân Nguyên. Việc in kèm theo như thế này chứng tỏ văn bản mà ni cô Diệu Liên dùng để in, chắc chắn phải đến từ một truyền bản của thiền sư Chân Nguyên, nghĩa là từ một truyền bản của nửa cuối thế kỷ thứ 17. Trước thế kỷ đó, số phận của <em>Cư trần lạc đạo phú</em> thế nào ta hiện nay chưa có một thông tin nào cả. </span></div>
<div></div>
<div><span>Nếu trước thế kỷ thứ 17 ta hiện chưa có thông tin gì về truyền bản của <em>Cư trần lạc đạo phú</em> và <em>Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca</em> thì sau thế kỷ thứ 18, tức sau lần in của ni cô Diệu Liên, vấn đề truyền bản của hai tác phẩm này tương đối rõ ràng. Trong lời dẫn cho lần in năm 1930 của <em>Thiền tông bản hạnh</em>, thiền sư Thanh Hanh (1840 -1936) cho biết vào năm Gia Long thứ 12 (1814) bản <em>Thiền tông bản hạnh</em> đã được in lại, và cùng với nó chắc chắn phải có <em>Cư trần lạc đạo phú</em> và <em>Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca.</em> </span></div>
<div></div>
<div><span>Hơn nữa khi thiết lập bản mục lục các kinh sách Phật giáo lưu hành vào nửa đầu thế kỷ thứ 19 trong <em>Đạo giáo nguyên lưu</em> quyển thượng tờ 5a6, An Thiền có ghi tên một tác phẩm gọi là Trần triều thập hội lục. Rõ ràng <em>Thập hội lục</em> của triều Trần chính là 10 hội của <em>Cư trần lạc đạo phú.</em> </span></div>
<div></div>
<div><span>Trong vòng hơn 300 năm trở lại đây, <em>Cư trần lạc đạo phú</em> và <em>Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca</em> đã được in nhiều lần. Điều này chứng tỏ tư tưởng <em>Cư trần lạc đạo</em> vẫn tiếp tục được học tập và truyền bá dù Phật giáo cũng như đất nước đang chuyển mình qua một giai đoạn mới. Giá trị lý luận của tư tưởng <em>Cư trần lạc đạo</em> từ đó vẫn còn có sức hấp dẫn mạnh mẽ, đặc biệt là vào cuối thế kỷ thứ 18 với những chiến công Ngọc Hồi, Đống Đa oanh liệt của quân và dân Tây Sơn, trong đó nổi bật những gương mặt Phật tử tự nhận mình là người kế thừa truyền thống Trúc Lâm, như binh bộ thượng thư Tỉnh Phái Hầu Ngô Thời Nhiệm, là thiền sư Hải Lượng, Hương Lĩnh Bá tiến sĩ Nguyễn Đăng Sở, là thiền sư Hải Âu v..v&#8230; </span></div>
<div></div>
<div><span>Hơn 300 năm qua, <em>Cư trần lạc đạo ph</em>ú và <em>Đắc thú lâm tuyền thành đạo c</em>a đã được trân trọng, giữ gìn và học tập như thế, thì chắc chắn hơn 300 năm trước nó cũng có chung một diễm phúc. Bởi vì nếu không có diễm phúc ấy, thì qua ngọn lửa đốt sách bạo tàn của giặc Minh xâm lược trong gần 20 năm chiếm đóng, chúng chắc chắn đã chịu chung một số phận với các tác phẩm của dân tộc ta thời Lý Trần về trước. Hơn nữa, thời Lê sơ và thời Mạc là thời kỳ Phật giáo phục hưng mạnh mẽ trong phong trào dân tộc hóa với việc dịch kinh sách ra tiếng Việt như <em>Đại báo phụ mẫu ân trọng kinh</em> của thiền sư Viên Thái, việc in lại các tác phẩm sử học Phật giáo như Nam tông tự pháp đồ của trạng nguyên Lương Thế Vinh, <em>Thánh đăng ngữ lục</em> của thiền sư Chân Nguyên, và đặc biệt việc thiết định và cổ xúy dùng tiếng Việt của thiền sư Pháp Tính trong <em>Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa</em>. </span></div>
<div></div>
<div><span>Trong một thời kỳ Phật giáo hoạt động sôi nổi và mạnh mẽ như vậy, việc học tập và nghiên cứu hai tác phẩm vừa nêu của vua Trần Nhân Tông chắc chắn đã xảy ra. Điều đáng tiếc là, cho đến lúc này ta vẫn chưa tìm ra một thông tin nào xác nhận về sự hiện diện của hai tác phẩm ấy trong giai đoạn đó. Dẫu thế, chúng chắc chắn đã được lưu truyền để đến cuối thế kỷ thứ 17 Chân Nguyên mới có dịp trích dẫn trong <em>Kiến tính thành Phật của mình.</em> Nói khác đi chúng đã nằm trong dòng chủ lưu của nền văn học và tư tưởng tiếng Việt. Cho nên, như đã nói, thật là một vinh dự cho nền văn học tiếng Việt của nước ta đã bắt đầu với ngòi bút của một anh hùng dân tộc có những chiến công oanh liệt như Trần Nhân Tông và với những tác phẩm đã có một tác động sâu rộng trên truyền thống dân tộc, chứ không phải chỉ của Phật giáo, như <em>Cư trần lạc đạo phú</em> và<em> Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca.</em> </span></div>
<div></div>
<div><span>Hai tác phẩm này thuộc loại văn học luận đề. Chúng là những bản văn chính luận tập trung trình bày một số vấn đề tư tưởng và lý luận. Chúng đã dùng tiếng Việt như một ngôn ngữ để phát biểu những tư tưởng trừu tượng tương đối khó nắm bắt một cách khéo léo và dễ hiểu. Từ đó tiếng Việt đã trở thành một ngôn ngữ đủ khả năng chuyển tải bất cứ nội dung tư tưởng khác nhau nào và có một vẻ đẹp của riêng nó. Nhờ thế, các tác phẩm ấy không những đã lôi cuốn được sự chú ý của người đương thời, mà còn có sức hấp dẫn đối với hậu thế. Tiếng Việt tự bản thân nó đã trở thành một ngôn ngữ văn học. Đây chính là một trong những cống hiến lớn, mà hai tác phẩm này đã mang lại cho văn học Việt </span><span>Nam</span><span>. </span></div>
<div></div>
<div><span>Để có được hai tác phẩm ấy vào cuối thế kỷ thứ 13, tiếng Việt từ bao đời, hơn cả ngàn năm trước, từng là một ngôn ngữ văn học. Chúng đã kế thừa những thành tựu và tinh hoa của nền văn học trong hơn ngàn năm đó, nên đến ngày nay mỗi khi đọc lại, chúng ta vẫn cảm thấy chúng gần gũi, đẹp đẽ và dễ hiểu, khác hẳn với những câu văn ngọng nghịu khó chịu do người ngoại quốc ghi lại mới chỉ cách ta hơn 300 năm. Thực tế để có được giọng văn lý luận như đã xuất hiện trong <em>Cư trần lạc đạo phú</em> và <em>Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca</em>, tiếng Việt đã trải qua hàng ngàn năm thử thách và sử dụng, chứ không phải đến thời vua Trần Nhân Tông nó mới bắt đầu được đưa vào sự nghiệp sáng tác của thơ văn. </span></div>
<div></div>
<div><span>Quả vậy, nếu tiếng Việt không tồn tại trong hơn một ngàn năm đó, đối lập lại với tiếng Hán và trở thành một trong những bức trường thành chặn đứng mưu đồ Hán hóa do các nhà nườc Trung Quốc trong cùng thời gian đã ra sức quyết tâm thực hiện, thì dân tộc ta ngày nay cũng không còn, chứ nói chi đến một nền độc lập nhà nước và một tiếng nói riêng biệt. Do thế, <em>Cư trần lạc đạo phú</em> và <em>Đắc thú lâm tuyền thành đạo</em> ca là một kết tụ của những nỗ lực phi thường và đầy gian khổ trong quá trình đấu tranh bi tráng để bảo vệ dân tộc và giữ vững chủ quyền quốc gia. Giá trị văn học của hai tác phẩm này từ đó càng nhân lên gấp bội. </span></div>
<div></div>
<div><span>Do tính kết tụ vừa nói, không một ngôn ngữ nào trên thế giới bỗng chốc có thể nhảy lên vũ đài văn học, để trở thành một ngôn ngữ văn học. Ngay cả những ngôn ngữ lớn có văn bản lâu đời trên thế giới như tiếng Hán, tiếng Phạn, Hy Lạp v.v… cũng đều trải qua một quá trình kiểu ấy, để từ những văn bản bói quẻ thô sơ hoặc những bài ca vịnh đơn giản, mà tiến lên thành những ngôn ngữ văn học nổi tiếng trên thế giới. Tiếng Việt ta cũng thế. Để có những tác phẩm lý luận có vẻ đẹp văn học như <em>Cư trần lạc đạo phú</em> và <em>Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca</em>, nó cũng đã trải qua một quá trình kết tụ lâu dài từ bài Việt ca đầu tiên được biết cho đến các mẩu chuyện trong <em>Lục độ tập kinh</em> và <em>Tạp thí dụ kinh,</em> cho đến bài Giáo trò của thiền sư Đạo Hạnh. Cả quá trình sử dụng thành thạo và nhuần nhuyễn tiếng nói dân tộc đã tạo cơ hội cho sự ra đời của hai tác phẩm vừa nêu. </span></div>
<div></div>
<div><span>Sự xuất hiện của tiếng Việt như một ngôn ngữ văn học, do thế, là một quá trình đấu tranh gian khổ đầy thử thách và nguy cơ. Qua quá trình đấu tranh đó, tiếng Việt đã chứng tỏ tính ưu việt của mình, làm tiền đề cho sự xuất hiện của <em>Cư trần lạc đạo phú </em>và <em>Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca</em>. Không qua một quá trình như thế thì không bao giờ có được những tác phẩm kể trên. Đây là điểm mà những người nghiên cứu văn học Việt </span><span>Nam</span><span> từ trước đến nay chưa bao giờ chú ý tới. Người ta cứ loay hoay đi tìm nguồn gốc chữ Nôm trong mấy bản văn bia còn lại của thời Lý Trần, rồi cứ đẩy lên đẩy xuống thời điểmợ ra đời của thứ chữ này trong khoảng từ thế kỷ thứ 8 cho đến thế kỷ thứ 13. Họ quên rằng để vào cuối thế kỷ thứ 13 có các tác phẩm như <em>Cư trần lạc đạo phú </em>và <em>Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca</em> thì tiếng Việt và chữ Việt phải xuất hiện rất sớm, ít lắm cũng năm bảy trăm năm trở lên. Đây là một quá trình bắt buộc có tính khách quan đối với bất cứ ngôn ngữ nào, chứ không phải chỉ riêng tiếng Việt ta. Vì vậy, nghiên cứu hai tác phẩm này chính là nghiên cứu quá trình kết tụ của nó. </span></div>
<div></div>
<div>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<div></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[1] Lê Mạnh Thát, Lục độ tập kinh và Lịch sử khởi nguyên dân tộc ta, Tu thư Đại học Vạn Hạnh 1972, tr.254-321; Khương Tăng Hội toàn tập, I, Tu thư Đại học Vạn Hạnh 1975, tr.172-188.</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;"><span style="font-size: 12px;">[2] Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập I, NXB Thuận Hóa 1999, tr. 474 &#8211; 490.</span></span>&nbsp;</p>
</div>
<div><span style="font-size: 12px;">[3] Lê Mạnh Thát, Kiến tính thành Phật lục, trong Chân Nguyên thiền sư toàn tập, Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1982, tr. 72.</span></div>
</div>
</div>
<div class="clear"></div>
</div>
<div id="page-1113" class="tab-content-small" style="display: none;">
<div class="text">
<div>Ngày nay, ta không biết đích xác vua Trần Nhân Tông đã viết hai tác phẩm ấy vào thời điểm nào. Nhưng chắc chắn là <em>Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca,</em> qua nội dung của chính nó, phải được vua Trần Nhân Tông viết vào thời gian sau khi đã sống ở núi Yên Tử, tức sau tháng 8 năm Kỷ Hợi (1299), năm mà <em>ĐVSKTT</em> đã ghi <em>“Thượng hoàng từ phủ Thiên Trường lại xuất gia vào núi Yên Tử tu khổ hạnh”</em>, vì bài ca này đã nói tới việc:</div>
<div></div>
<div><em>Yên bề phận khó </em></div>
<div><em>Kiếm chốn dưỡng thân </em></div>
<div><em>Khuất tĩnh non cao </em></div>
<div><em>Náu mình sơn dã </em></div>
<div><em>Vượn mừng hủ hỷ </em></div>
<div><em>Làm bạn cùng ta </em></div>
<div><em>Vắng vẻ ngàn kia </em></div>
<div><em>Thân làm hỷ xả&#8230; </em></div>
<div><em>Đem mình náu tới </em></div>
<div><em>Cảnh vắng ngàn kia </em></div>
<div><em>Dốc chí tu hành </em></div>
<div><em>Giấy sồi bô bả.</em></div>
<div></div>
<div>Viết như thế này, rất gần với những gì mà Huyền Quang tả về chùa Vân Yên và cuộc sống của vua Trần Nhân Tông ở đây:</div>
<div></div>
<div><em>Cảnh tốt hòa lành </em></div>
<div><em>Đồ tựa vẽ tranh </em></div>
<div><em>Chỉn ấy trời thiêng mẽ khéo </em></div>
<div><em><span>Hèn chi vua Bụt tu hành&#8230; </span></em></div>
<div><em><span>Chim óc bạn cắn hoa nâng cúng </span></em></div>
<div><em>Vượn bồng con kề cửa nghe kinh </em></div>
<div><em>Nương am vắng Bụt hiện từ bi, </em></div>
<div><em>gió hiu hiu mây nhè nhẹ </em></div>
<div><em>Kề song thưa thầy ngồi thiền định, </em></div>
<div><em>trăng vằng vặc núi xanh xanh&#8230; </em></div>
<div><em>Mặc cà sa, nằm trướng giấy, </em></div>
<div><em>màng chi châu đầy lẫm, ngọc đầy rương. </em></div>
<div><em>Quên ngọc thực, bỏ hương giao </em></div>
<div><em>cắp nạnh cà một vò, tương một hũ&#8230; </em></div>
<div><em>Thầy tu trước đã nên Phật quả </em></div>
<div><em><span>Tiểu tu sau còn vị tỳ kheo.</span></em></div>
<div></div>
<div><span>Còn<em> Cư trần lạc đạo phú</em>, thì thật khó mà xác định vua Trần Nhân Tông đã viết ra vào lúc nào trong cuộc đời mình. Có người bảo là nó được viết ra trước lúc vua đi xuất gia, tức trước năm 1299. Chắc hẳn khi nói thế họ đã dựa vào hai câu mở đầu của bài phú này:</span></div>
<div></div>
<div><em><span>Mình ngồi thành thị </span></em></div>
<div><em><span>Nết dụng sơn lâm</span></em></div>
<div></div>
<div><span>để khẳng định vua Trần Nhân Tông đang còn sống ở thành Thăng Long, mà lòng vua đã hoàn toàn an nhàn tự tại như sống ở rừng núi. Nhưng cũng chính trong bài phú đó ở Hội thứ 5 ta đã gặp:</span></div>
<div></div>
<div><em><span>Thiền ngỏ năm câu, nằm nhãng trong quê Hà Hữu </span></em></div>
<div><em><span>Kinh xem ba biến, ngồi ngơi mái quốc Tân La </span></em></div>
<div><em><span>Trong đạo nghĩa, khoáng cơ quan, </span></em></div>
<div><em><span>đà lọt lẫn trường kinh cửa tổ </span></em></div>
<div><em><span>Lánh thị phi, ghê thanh sắc, </span></em></div>
<div><em><span>ngại chơi bời dặm liễu đường hoa </span></em></div>
<div><em><span>Áo miễn chăn đầm ấm qua mùa, </span></em></div>
<div><em><span>hoặc chằm hoặc xể </span></em></div>
<div><em><span>Cơm cùng cháo, đói no đòi bữa, dầu bạc dầu thoa</span></em></div>
<div></div>
<div><span>Viết như thế rõ ràng đây không phải là cuộc sống cung đình thị thành, mà là cuộc sống dân dã rừng núi. Cho nên, thật khó mà dựa vào nội dung của bài phú này để xác định thời điểm ra đời của nó. Điều chắc chắn là nó được viết vào lúc vua Trần Nhân Tông đã có ít nhiều quan tâm đến núi Yên Tử. Ta biết trong Phật giáo đời Trần, Yên Tử có vị thế trung tâm. Thời ông nội mình là vua Thái Tông đã từng tới đó. Khi còn trẻ vua Nhân Tông cũng đã có ý định lên sống ở đó. Dẫu sao đi nữa, chủ trương <em>“Cư trần lạc đạo, Trần tục mà nên”</em> vẫn đóng vai trò mà từ năm 1287, khi Tuệ Trung Trần Quốc Tung đã ấn chứng cho vua, thì chủ trương đó càng trở nên rõ rệt. Nói cách khác, thời điểm ra đời của <em>Cư trần lạc đạo phú</em> phải từ sau năm 1287 trở đi và chắc chắn là sau năm 1288, khi quân thù đã bị quét sạch khỏi bờ cõi và cả nước đang ra sức lao động để kiến tạo cuộc sống ấm no cho gia đình và bản thân người dân.</span></div>
<div></div>
<div><span>Bộ từ vựng của <em>Cư trần lạc đạo phú</em> gồm cả thảy 1688 hạng từ, kể luôn các tên đầu đề, tên các hội và bài thơ chữ Hán kết thúc bài phú. Nếu chỉ kể riêng số từ vựng trong các hội thì nó chỉ gồm 1623 hạng từ, trong đó có những hạng từ Việt xuất hiện khá nhiều lần như <em>lòng</em> (18 lần), <em>cho</em> (13 lần), <em>chẳng </em>(13 lần), <em>mới</em> (12 lần, hay 11 lần), <em>Bụt </em>(10 lần) v..v… Và số 1623 hạng từ này nếu chúng ta thiết lập một bản từ gồm những tên người, tên đất, những từ chuyên môn và những từ phiên âm, chúng ta còn số hạng từ ít hơn nữa, tức khoảng hơn 1400 từ. Chẳng hạn các từ như Thích Ca, Di Đà, Di Lặc, bát nhã, chiêm bặc, chiên đàn, bồ đề, bồ tát, đàn việt, ưu đàm, Câu Chi, Diễn Nhã Đạt Đa. Đấy là những từ phiên âm của tiếng Phạn và chúng ta chỉ có 12 hạng từ thay vì 26 hạng từ khi tách rời chúng ra thành từng hạng từ một. Các từ chuyên môn như bát phong, bát thức, cực lạc,đại thừa, tiểu thừa, hữu lậu, kim cương, vô lậu, lục căn, lục tặc, tam độc, tam thân, tam tạng, tam huyền, tam yếu, tam nghiệp, tịnh độ, thái bình, thượng sĩ, trí tuệ, tri âm, tri thức, tri kiến, tri cơ, trượng phu, trưởng lão, viên giác, vô thường, vô minh, vô sinh, vô tâm, vô vi cũng thế. Nếu đưa chúng vào những hạng mục từ, ta chỉ có 32 hạng từ thay vì có đến 64. Các tên đất, tên người như Yên Tử, Cánh Diều, Hà Hữu, Hùng Nhĩ, Tân La, Thiên Trúc, Thiếu Lâm, Tào Khê, Thiếu Thất, Lư Lăng, Phá Táo, Thạch Đầu, Lâm Tế, Bí Ma, Thuyền Tử, Đạo Ngô, Thiều Dương, Triệu Lão, Thiên Cang, Thái Bạch cũng vậy.</span></div>
<div></div>
<div><span>Với số lượng trên dưới 1400 từ này, ta có một bộ từ vựng tương đối phong phú để nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc ta vào thời vua Trần Nhân Tông. Và đó là chỉ mới kể số hạng từ có trong <em>Cư trần lạc đạo phú</em>. Nếu gộp luôn số hạng từ của Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, mà số lượng lên đến 336, trong đó trừ những trùng lặp đã có đến 238 hạng từ. Gộp chung lại với <em>Cư trần lạc đạo phú</em>, ta sẽ có một bộ từ vựng với gần 2000 từ, tức cỡ loại từ điển nhỏ, và cho ta một nhận thức tương đối hoàn chỉnh về ngôn ngữ dân tộc ta vào thời đại Trần Nhân Tông, tức thế kỷ thứ 13, cách chúng ta gần 700 năm. </span></div>
<div></div>
<div><strong><strong><span>Thơ Trần Nhân Tông</span></strong></strong>&nbsp;</p>
</div>
<div></div>
<div><span>Đến đây chúng ta cần phân tích sơ bộ hai tác phẩm viết bằng tiếng Việt của vua Trần Nhân Tông. Nhưng sự nghiệp văn học của nhà vua không chỉ giới hạn vào các tác phẩm tiếng Việt. Nhà vua còn là tác giả của 30 bài thơ và đoạn thơ, 22 lá thư viết cho vua quan nhà Nguyên cùng hai bài giảng ở chùa Sùng Nghiêm và viện Kỳ Lân. Trong hai bài giảng này cũng có một số bài thơ và đoạn thơ dùng để trả lời cho các câu hỏi mà người đối thoại đã đặt ra, và vẫn chưa được kê vào số lượng thơ và đoạn thơ của vua Trần Nhân Tông. Nói thế tức cũng muốn nói số lượng tác phẩm vua Trần Nhân Tông còn lại cho chúng ta ngày nay không phải là ít, dù rằng phần lớn chúng đều được viết bằng chữ Hán.</span></div>
<div></div>
<div><span>Với sự nghiệp thơ văn chữ Hán của vua Trần Nhân Tông, hầu hết những nhà nghiên cứu từ trước đến nay đều thống nhất coi vua Trần Nhân Tông là một <em>“tên tuổi lẫy lừng”</em> trong lãnh vực hoạt động sáng tạo này. Thực tế, đọc các bài thơ chữ Hán do vua Trần Nhân Tông sáng tác, người ta không thể không cảm nhận những vẻ đẹp khác nhau của đất nước, từ một buổi chiều làng quê yên tĩnh cạnh nơi ở của hoàng gia tại phủ Thiên Trường ở đồng bằng sông Hồng:</span></div>
<div></div>
<div><em><span>Xóm trước thôn sau tợ khói nhòa </span></em></div>
<div><em><span>Nửa không nửa có mé chiều sa </span></em></div>
<div><em><span>Mục đồng sáo vẳng trâu về hết </span></em></div>
<div><em><span>Cò trắng từng đôi ruộng xuống sà</span></em></div>
<div></div>
<div><em><span>(Thôn hậu thôn tiền đạm tợ yên </span></em></div>
<div><em><span>Bán vô bán hữu tịch dương biên </span></em></div>
<div><em><span>Mục đồng địch lý quy ngưu tận </span></em></div>
<div><em><span>Bạch lộ song song phi hạ điền)</span></em></div>
<div></div>
<div><span>Cho đến một ngôi chùa tại Lạng Châu thuộc miền trung du Bắc bộ:</span></div>
<div></div>
<div><em><span>Chùa cổ đìu hiu thu khói mờ </span></em></div>
<div><em><span>Thuyền câu chiều quạnh tiếng chuông đưa </span></em></div>
<div><em><span>Nước quang non lặng bay âu trắng </span></em></div>
<div><em><span>Gió đứng mây đùa cây đỏ thưa.</span></em></div>
<div></div>
<div><span>(Cổ tự thê lương thu ái ngoại </span></div>
<div><span>Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ </span></div>
<div><span>Thủy minh sơn tĩnh bạch âu quá </span></div>
<div><span>Phong định vân nhàn hồng thụ sơ)</span></div>
<div></div>
<div><span>Ngay trong cuộc sống thường nhật, một ánh trăng ban đêm cùng tiếng rơi tí tách của sương thu trên lá cây trước sân nhà và xa xa tiếng chày nện vải từ một ngôi làng dệt nào đưa tới đã gợi nên những xao xuyến trong tâm hồn, cảm thấy vẻ đẹp của một đất nước thanh bình</span></div>
<div></div>
<div><em><span>Đầy sách giường song chếch bóng đèn </span></em></div>
<div><em><span>Sân thu sương bủa thoáng hơi đêm </span></em></div>
<div><em><span>Tiếng chày thức dậy đâu không biết </span></em></div>
<div><em><span>Hoa mộc trên cành trăng mới lên.</span></em></div>
<div></div>
<div><span>(Bán song đăng ảnh mãn sàng thư </span></div>
<div><span>Lộ trích thu đình dạ khí hư </span></div>
<div><span>Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ </span></div>
<div><span>Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ)</span></div>
<div></div>
<div><span>Nhưng cuộc đời vua Trần Nhân Tông không giống cuộc đời những ông vua sinh ra, lớn lên, rồi thụ hưởng một đất nước thái bình. Năm vua ra đời cũng chính là thời điểm vua Trần Thái Tông vừa đánh tan đạo quân xâm lược thứ nhất của đế chế Nguyên Mông lần đầu tiên tiến công nước ta, dưới sự chỉ huy của một tên tướng khét tiếng tàn bạo Ngột Lương Hợp Thai (Uryangqadai). Hơn 20 năm tiếp theo là một cuộc đấu tranh gian khổ về ngoại giao nhằm vừa bảo vệ chủ quyền đất nước, vừa mang lại nền hòa bình để cho người dân có cơ hội lao động sinh sống, và đất nước chuẩn bị tiềm lực để chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu.</span></div>
<div></div>
<div><span>Kịp đến khi lên ngôi vào tháng 10 năm Mậu Dần (1278) thì vua Trần Nhân Tông đã phải trực tiếp đối phó với những tên sứ giả <em>“uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình, đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tể phụ”</em>, như Trần Hưng Đạo đã mô tả. Thế là cả nước phát động một phong trào chuẩn bị diệt giặc cứu nước. Tuy hào khí Nguyên Phong của cuộc chiến tranh năm Đinh Tỡ (1257) vẫn còn đó, mà nhà vua cảm thấy khi đến thăm lăng mộ của ông nội mình vào một ngày xuân trước cuộc chiến tranh 1285.</span></div>
<div></div>
<div><em><span>Hùm gấu nghiêm nghìn cửa </span></em></div>
<div><em><span>Áo mão bảy phẩm đầy </span></em></div>
<div><em><span>Lính bạc đầu còn đó </span></em></div>
<div><em><span>Nguyên Phong mãi kể say</span></em></div>
<div></div>
<div><em><span>(Tỉ hổ thiên môn túc </span></em></div>
<div><em><span>Y quan thất phẩm thông </span></em></div>
<div><em><span>Bạch đầu quân sĩ tại </span></em></div>
<div><em><span>Vãng vãng thuyết Nguyên Phong)</span></em></div>
<div></div>
<div><span>Và hơn ai hết, bản thân vua Trần Nhân Tông đã từng cầm quân xông pha trận mạc. Thực tế, ta đã thấy nhà vua đã từng trực tiếp chỉ huy những trận đánh lớn, sống gần gũi với tướng lĩnh và binh sĩ, nên dễ cảm thông, thương xót cho những người vợ phải sống lẻ loi, khi người chồng vì nhiệm vụ phải ra mặt trận ở một nơi xa xôi nào đó của tổ quốc.</span></div>
<div></div>
<div><em><span>Ngủ dậy vén rèm hoa thấy rơi </span></em></div>
<div><em><span>Hoàng ly không hót giận xuân rồi </span></em></div>
<div><em><span>Lầu tây vô cớ vầng dương lặn </span></em></div>
<div><em><span>Bóng ngả về đông hoa lẫn chồi.</span></em></div>
<div></div>
<div><span>(Thụy khởi câu liêm khán trụy hồng </span></div>
<div><span>Hoàng ly bất ngữ oán đông phong </span></div>
<div><span>Vô đoan lạc nhật tây lâu ngoại </span></div>
<div><span>Hoa ảnh chi đầu tận hướng đông)</span></div>
<div></div>
<div><span>Chiến tranh vệ quốc chống lại các thế lực xâm lược lớn mạnh hơn ta rất nhiều lần, còn gợi lên những nỗi buồn như thế, huống nữa những cuộc chiến tranh để bảo vệ an ninh biên giới do các thế lực nhỏ yếu hơn ta quấy phá. Trong một bài thơ viết nhân chiến dịch bình định Ai Lao vào mùa xuân năm Canh Dần (1290), mà vì nghĩa vụ bảo vệ cuộc sống an lành cho nhân dân và một biên cương ổn định cho tổ quốc, vua Trần Nhân Tông phải cầm quân đi đánh dẹp. Thế mà vua vẫn tỏ ra không thích thú gì:</span></div>
<div></div>
<div><em><span>Hoa sóng tung lên buồm gấm bay</span></em></div>
<div><em><span>Dưới mui đầu mệt chẳng buồn quay </span></em></div>
<div><em><span>Mây chiều Tam Giáp nhạn không đến </span></em></div>
<div><em><span>Trăng sáng Cửu Than rồng có đây </span></em></div>
<div><em><span>Lạnh lẽo đường đi cung mộng cũ </span></em></div>
<div><em><span>Ngổn ngang sầu vướng rượu ly đầy </span></em></div>
<div><em>Hán hoàng mang tiếng say chinh chiến </em></div>
<div><em>Vội vã nam nhi chi lắm vầy.</em></div>
<div></div>
<div>(Cẩm phàm khinh sấn lãng hoa khai,</div>
<div>Bồng để yêm yêm thủ bất đài.</div>
<div>Tam giáp mộ vân vô nhạn đáo,</div>
<div>Cửu than minh nguyệt hữu long lai.</div>
<div>Thê lương hành sắc thiêm cung mộng,</div>
<div>Liêu loan nhàn sấu đáo tửu bôi.</div>
<div>Hán Vũ phiêu chiêu cùng độc báng,</div>
<div>Nam nhi cấp cấp nhược vi tai).</div>
<div></div>
</div>
<div class="clear"></div>
</div>
<div id="page-1114" class="tab-content-small">
<div class="text">
<div><span>Một cuộc chiến tranh do vua chủ trương vì lợi ích chung như ĐVSKTT 5 tờ 58b5 -59a1 đã ghi: “<em>Vua thân chinh Ai Lao. Triều thần nói: ‘Giặc Nguyên vừa rút lui, vết thương chưa khỏi sao có thể dấy binh’. Vua nói: ‘Chỉ có thể vào lúc này mới ra quân được, vì sau khi giặc rút lui thì ba vùng (Ai Lao, Chiêm Thành và Chân Lạp &#8211; LMT) tất cho quân ngựa và của cải ta bị tan mất, thế không thể tránh khỏi được, sẽ có sự khinh nhờn đối với ta, cho nên đem đại quân đi để thị uy’. Quần thần đều nói: ‘Vua há không biết dân mệt sao, mà chỉ vì có việc đáng lo lớn hơn thế nữa’. Đó là thánh nhân lo xa, chẳng phải bọn thần nghĩ kịp được”.</em></span></div>
<div></div>
<div><span>Việc đem quân đi thị uy đối với Ai Lao, chỉ vì quyền lợi của đất nước mà vua Trần Nhân Tông phải làm. Và thực tế chỉ chưa tới 4 năm sau khi đã truyền ngôi cho con là Anh Tông và trở thành Thượng hoàng, vua Trần Nhân Tông còn phải thân chinh Ai Lao một lần nữa, vào tháng 8 năm Giáp Ngọ (1294) với sự tham gia của các tướng Phạm Ngũ Lão, Trung Thành Vương. Mối đe dọa của Ai Lao đối với biên cương Đại Việt như thế không phải là không có. Và việc đánh dẹp Ai Lao như thế là một yêu cầu của an ninh quốc gia. Thế mà, dù bài thơ vừa trích được làm vào chiến dịch Ai Lao năm 1290 hay 1294, nó vẫn toát lên một sự chán ghét đối với chiến tranh, đối với cái mà người thường gọi là “cùng binh độc vũ”, tức dùng chiến tranh để thỏa mãn những tham vọng cá nhân của người lãnh đạo. </span></div>
<div></div>
<div>Trong cuộc đời mình, vua Trần Nhân Tông đã từng sống qua hai cuộc chiến tranh tàn khốc, nên hơn ai hết đã hiểu thế nào là những nỗi khổ do chiến tranh đem lại cho phía ta cũng như phía địch. Việc sử dụng chiến tranh để chống lại chiến tranh chỉ là một biện pháp bất đắc dĩ, khi mọi biện pháp khác không thể dùng được nữa. Do vậy, tự thâm tâm vua Trần Nhân Tông không bao giờ tán thành chiến tranh. Và sự không tán thành này xuất phát từ một cái nhìn về tính chung đồng loại của những con người dù ở chiến tuyến nào đi nữa, họ cũng đều có xúc cảm, suy nghĩ, nguyện vọng giống nhau. Không ít người từ hơn 500 năm trở lại đây, đã ca ngợi tính nhân bản và cao thượng của hành động cởi ngự bào phủ lên thủ cấp của tên tướng giặc Toa Đô, vừa bị quân ta chém đầu trong trận Tây Kết thứ hai năm 1285, do chính bản thân vua Trần Nhân Tông trực tiếp chỉ huy.</div>
<div></div>
<div><span>Từ một sự chán ghét chiến tranh như vậy, vua Trần Nhân Tông tập trung mọi nỗ lực của mình để xây dựng một nền hòa bình lâu dài, không chỉ cho đất nước và dân tộc mình, mà còn cho các dân tộc và quốc gia láng giềng, đặc biệt là đất nước và nhân dân Trung Quốc. Ngay khi khói lửa của cuộc chiến tranh năm 1288 đang còn vướng vất trên các chiến trường Thăng Long, Bạch Đằng, lúc tiếp phái bộ Lưu Đình Trực và Lý Tư Diễn, do Hốt Tất Liệt gửi qua để đòi lại các tướng tá giặc như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Sầm Đoạn do ta bắt được, vua Nhân Tông đã nói đến </span></div>
<div></div>
<div><span><em>Khí hòa góc đất đều lan tới </em></span></div>
<div><span><em>Bụi chiến sông trời rửa sạch trơn.</em></span></div>
<div></div>
<div><span>(Thác khai địa giác giai hòa khí </span></div>
<div><span>Tịnh hiệp thiên hà tẩy chiến trần) </span></div>
<div></div>
<div><span>Trong bài thơ tiễn đưa phái bộ này, thể hiện ý chí và nguyện vọng bảo vệ và xây dựng hòa bình của nhân dân Đại Việt và của chính bản thân nhà vua. Đây là một nội dung đặc biệt của thơ văn vua Trần Nhân Tông, bộc lộ một sự tha thiết đối với hòa bình. Thật cũng lạ, một con người đã từng chỉ đạo, trực tiếp tham gia chiến tranh và đã có những chiến thắng oanh liệt. Vậy mà qua thơ văn vẫn luôn luôn biểu hiện một ước ao nóng bỏng đối với hòa bình. Điều này cũng có nghĩa vua Trần Nhân Tông không bao giờ coi chiến tranh như một nấc thang để bước lên đài danh vọng, để đi tới bến vinh quang. Suốt cuộc đời, ngay cả sau khi xuất gia, vua cũng luôn lao động miệt mài cho hòa bình, nhất là một nền hòa bình ở biên cương phía </span><span>Nam</span><span> của tổ quốc tiếp giáp với nước Chiêm Thành. </span></div>
<div></div>
<div><span>Trước đây, nhiều người thường cho giai đoạn vua Trần Nhân Tông xuất gia là giai đoạn nhà vua rút lui khỏi cuộc đời, khỏi xã hội, <em>“càng tu hành càng xa với thực tế xã hội, càng xa với ý muốn cứu khổ cứu nạn của Phật tổ”</em>. Thế mà chính trong giai đoạn xuất gia này của nhà vua, biên cương của Đại Việt đã nối dài trên 200 cây số, và nền hòa bình Việt Chiêm đã duy trì được gần mấy chục năm, làm tiền đề cho sự nghiệp Nam tiến của dân tộc ngày càng phát triển dồn dập như cơn thủy triều đang buổi dâng lên của nó. Cũng có người đọc hai câu thơ: </span></div>
<div></div>
<div><span><em>Phải trái lòng theo hoa sớm rơi </em></span></div>
<div><span><em>Lợi danh tâm lạnh tối mưa thôi</em></span></div>
<div></div>
<div><span>Đã không biết đặt chúng vào trong bối cảnh lý luận của tư tưởng vua Trần Nhân Tông, rồi vội vã bình luận đấy là những<em> “câu thơ cực kỳ chán đời”</em>, thể hiện <em>“tư tưởng hư vô chủ nghĩa triệt để, bắt nguồn từ trong triết học Phật giáo&#8230; trong chế độ điền trang, sự phú quý cực độ của nhiều nhà chùa và tất cả sự suy đồi của nó”.</em> Bình luận thế là họ đã quên vua Trần Nhân Tông là một trong <em>“những tên tuổi lẫy lừng nhất”</em> của những nhà thơ nhà văn đời Trần. Và những tên tuổi lẫy lừng nàỵ <em>“đều bộc lộ một niềm tin, một tinh thần quyết thắng và một ý chí kiên cường qua một loạt vần thơ bất hủ”</em>. Cho dù những bình luận trên được phát biểu vì mục đích gì, có phần nào gây nhiễu loạn thông tin hoặc sai lệch quá khứ đi chăng nữa, thì sự nghiệp vua Trần Nhân Tông, những đóng góp của cá nhân và triều đại nhà vua đối với dân tộc là không thể phủ nhận, là giai đoạn đáng ghi công, đáng tự hào của lịch sử dân tộc Việt Nam. </span></div>
<div></div>
<div><span>Ta đã thấy trong tư tưởng của vua Trần Nhân Tông có một cái nhìn về thời gian một chiều, một ngày đã qua là không bao giờ trở lại, như một bài thơ của Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Quốc Tung đã từng nói tới: </span></div>
<div></div>
<div><span><em>Trăng lặn trời tây khôn bóng lại </em></span></div>
<div><span><em>Nước trôi đổ biển sóng đâu quây</em></span></div>
<div></div>
<div><span>(Tây nguyệt trầm không nan phục ảnh </span></div>
<div><span>Đông lưu phó hải khởi hồi ba) </span></div>
<div></div>
<div><span>Cho nên đối với bản thân mình cũng như đối với mọi người, thời gian trở nên rất quý báu, cuộc đời con người quá ngắn ngủi cho một công việc phải làm: </span></div>
<div></div>
<div><span><em>Thời gian dễ trôi qua </em></span></div>
<div><span><em>Mạng người khôn dừng lại</em></span></div>
<div></div>
<div><span>(Thời quang dung dị quá </span></div>
<div><span>Nhân mạng bất định lưu).</span></div>
<div></div>
<div><span>Vì thế, sự sống trở nên quý giá. Một ngày đi qua không bao giờ chúng ta có lại. Chúng ta phải huy động toàn bộ thời gian cho những việc có ích cho mình cũng như cho người. Ta tưởng tượng dân tộc ta vào thời đó sống vội vã dồn dập. Họ sống vội vã dồn dập không phải vì cuộc sống là một đày ải mà ta cố hưởng lạc để cho xong đời. Họ sống vội vã dồn dập vì cuộc sống quá quý báu, không thể để nó trôi qua một cách vô vị, phí hoài. Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc ta thấy ánh lên một sự thôi thúc cho cuộc sống, cảm thấy nếu mình để mất đi một phút giây là mất đi một phần của sự sống. Họ hối hả xây dựng, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ cuộc sống và gia đình họ. Cả một đất nước tràn ngập, chứa chan sự lạc quan yêu đời. Chính vì quá lạc quan yêu đời mới cảm thấy thời gian dễ mất đi và cuộc sống của chúng ta không bao giờ trở lại, như vua Trần Nhân Tông thường nhắc nhở: </span></div>
<div></div>
<div><em>Đỗ quyên rền rĩ trăng ngày sáng</em></div>
<div><span><em>Đừng để tầm thường xuân luống qua</em></span></div>
<div></div>
<div><span>(Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú </span></div>
<div><span>Bất thị tầm thường không quá xuân) </span></div>
<div></div>
<div><span>Lâu nay nhiều người thường cho rằng quan niệm thời gian của phương Đông là một quan niệm thời gian vòng tròn, thời gian luân hồi, cứ thịnh suy bĩ thái, rồi thịnh suy bĩ thái kế tục nhau, giống như xuân hạ thu đông, rồi xuân hạ thu đông. Nhưng họ đâu biết rằng bên cạnh quan niệm thời gian vòng tròn ấy, còn hiện diện quan niệm thời gian một chiều. Cứ mỗi ngày đi qua là một ngày vĩnh viễn mất đi không bao giờ trở lại, giống như mặt trăng lặn về phía tây rồi không bao giờ có mặt trăng thứ hai của nó. Tổ tiên ta từ xưa đã có một quan niệm thời gian rất gần với quan niệm thời gian của thời hiện đại chúng ta. Có người đã diễn tả quan niệm thời gian này bằng một hình ảnh rất sống động. Đó là thời gian giống như chiếc xe. Chiếc xe chỉ có một hướng đi tới, giống như thời gian một chiều. Nhưng để chiếc xe đi tới được thì phải có 4 chiếc bánh quay tròn bên dưới nó. Cũng vậy, thời gian một chiều đi tới, nhưng nó đi tới trên những thời gian vòng tròn, tức xuân hạ thu đông, tức thịnh suy bĩ thái. </span></div>
<div></div>
<div><span>Xuất phát từ quan niệm thời gian như vậy, mà trong chiến tranh đất nước Đại Việt đã làm nên một chiến công Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết, Bạch Đằng oanh liệt. Và trong thời bình họ đã xây dựng nên một cuộc sống chỉ mấy năm sau chiến tranh với những cánh đồng lúa trĩu hạt, những nương dâu xanh ngắt bốn mùa và những chiếc cầu thượng gia hạ kiều, đã làm cho tên sứ Nguyên Trần Phu phải nể phục. Quân và dân Đại Việt đã sống theo những gì mà vua Trần Nhân Tông đã đề ra trong <em>Cư trần lạc đạo phú</em>. </span></div>
<div></div>
<div><span><em>Dựng cầu đò, xây chiền tháp, </em></span></div>
<div><span><em>Ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu&#8230;</em></span></div>
<div><span><em>Ngay thờ chúa, thảo thờ cha, </em></span></div>
<div><span><em>Đi đỗ mới trượng phu trung hiếu.</em></span></div>
<div></div>
<div><span>Dân tộc ta vào thời đại Trần Nhân Tông đã chiến đấu và xây dựng hăng say như thế, thực tế không phải vì danh vì lợi, vì thị vì phi, mà chính vì bản thân cuộc sống. Cuộc sống ngắn ngủi mà họ cho là đáng quý, đáng sống, cho nên người dân Đại Việt cố gắng sống xứng đáng với cuộc sống quý giá ngắn ngủi của mình. Chính vua Trần Nhân Tông cũng đã nói đến việc <em>“chuộng công danh, lồng nhân ngãi, thực ấy phàm ngu”</em> trong <em>Cư trần lạc đạo phú</em>. Cho nên ta không ngạc nhiên khi ở tại sơn phòng vua Trần Nhân Tông đã cảm xúc và viết ra bài thơ: </span></div>
<div></div>
<div><span><em>Phải trái lòng theo hoa sớm rơi </em></span></div>
<div><span><em>Lợi danh tâm lạnh mưa đêm thôi </em></span></div>
<div><span><em>Hoa tàn, mưa tạnh, non im ắng </em></span></div>
<div><span><em>Một tiếng chim kêu xuân hết rồi </em></span></div>
<div><span><em> </em></span></div>
<div><span>(Thị phi niệm trục triêu hoa lạc </span></div>
<div><span>Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn </span></div>
<div><span>Hoa tận, vũ tình sơn tịch tịch </span></div>
<div><span>Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn) </span></div>
<div></div>
<div><span>Quên danh, quên lợi, quên thị phi, vua Trần Nhân Tông vẫn nhớ đến mùa xuân. Và chỉ một tiếng chim hót vào một buổi sáng nào đó, sau trận mưa đêm làm hoa rụng hết, đã làm vua giật mình, mùa xuân đã qua rồi. Thời gian trôi đi chóng vánh, mới ngày nào đó năm cũ mới hết, vậy mà mùa xuân bây giờ đã không còn thấy nữa. Cảm thức thời gian này là một trong những cảm thức đã chi phối mọi suy nghĩ và hành động của chính bản thân vua Trần Nhân Tông. Trong <em>Cư trần lạc đạo phú</em> vua hằng mong.</span></div>
<div></div>
<div><span><em>Nửa ngày rồi, tự tại thân tâm</em></span></div>
<div></div>
<div><span>Thế mà công việc cứ dồn dập đổ tới tưởng như không bao giờ dứt. Ngay cả khi vua đến sống những nơi có vẻ như xa lánh hết mọi buộc ràng, công việc vẫn theo nhau kéo tới. ĐVSKTT 6 tờ 37a5-9 kể chuyện: <em>“Nguyễn Quốc Phụ làm nội thư chính chưởng, là cận thần của vua Trần Nhân Tông. Trong khoảng Hưng Long (1293 -1314), chức hành khiển thiếu người, Thượng hoàng (tức vua Trần Anh Tông, LMT) chầu vua Nhân Tông ở chùa Sùng Nghiêm. Vua Nhân Tông bảo Quốc Phụ làm được, Thượng hoàng thưa: ‘Nếu lấy ngôi thứ mà nói thì được, nhưng chỉ thích uống rượu thôi’, vua Nhân Tông không nói gì. Bèn không dùng”.</em> Và ta cũng thấy ở trên, trước lúc đi sứ ở Chiêm Thành vào tháng 10 năm Kỷ Mão (1303) Đoàn Nhữ Hài đến gặp vua Trần Nhân Tông cũng tại chùa Sùng Nghiêm này. </span></div>
<div></div>
<div><span>Một cuộc sống đầy ắp những công việc như thế, rõ ràng không vì lợi cho bản thân mình, và tất nhiên càng không thể vì danh. Có gì là lợi, khi bản thân mình thì <em>“mặc cà sa nằm trướng giấy”</em>, <em>“cà một vò tương một hũ”</em>, lợi đã không có thì làm gì có danh. Vì danh thường kết với lợi. Nhưng nói thế không phải để buông xuôi. Chỉ có vấn đề là không đặt chúng thành mục đích của cuộc sống. Cuộc sống của vua Trần NhânTông và nhân dân Đại Việt thời đại ấy có một mục đích khác, đó là <em>“tự tại thân tâm”</em>, là <em>“an nhàn thể tính</em>”. Nói theo ngôn ngữ hiện đại, đó là một sự theo đuổi hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc là gì, thì mỗi người phải tự trả lời lấy. Vua Trần Nhân Tông đã xuất gia trên núi Yên Tử cũng như trong khi cầm quân chiến đấu với giặc thù ở Tây Kết, có thể vua đã cảm thấy mình tự tại an nhàn. Ai giới hạn mình mà mình không tự tại nếu không phải là chính mình. Ai ngăn trở mình mà mình không an nhàn nếu không phải là chính mình. Mình phải cải tạo chính mình và thế giới để tạo cho mình tự tại và an nhàn. Đây chính là thông điệp mà thơ văn Trần Nhân Tông đã gửi đến cho chúng ta hôm nay và bao nhiêu thế hệ trước nữa: </span></div>
<div></div>
<div><span><em>Ai buộc mà đi giải thoát tìm </em></span></div>
<div><span><em>Không phàm sao phải kiếm thần tiên </em></span></div>
<div><span><em>Vượn đùa ngựa mỏi người già phải </em></span></div>
<div><span><em>Như cũ am mây một sập thiền</em></span></div>
<div></div>
<div><span>(Thùy trược cánh tương cầu giải thoát </span></div>
<div><span>Bất phàm hà tất mích thần tiên </span></div>
<div><span>Viên nhàn mã quyện nhân ưng lão </span></div>
<div><span>Y cựu vân trang nhất tháp thiền) </span></div>
<div></div>
<div><span>Cuộc đời vua Trần Nhân Tông và thông qua cuộc đời này, ta thấy nhân dân Đại Việt lúc ấy đã sống vui vẻ trong đất nước mình, hăng say lao động và chiến đấu để bảo vệ cuộc sống ấy. Họ không tìm một thế giới khác để thoát ly, một thế giới khác để mơ tưởng tới. Cuộc sống ở đời này quá ngắn ngủi đối với ho,ợ nên họ cố sống cho hết những giây phút vàng ngọc của cuộc đời ấy qua từng chi tiết nho nhỏ của nó. Có thể đó là những đĩa bánh cuốn mà vua Trần Nhân Tông đãi tên sứ giả giặc Trương Lập Đạo vào những ngày vừa mới quét sạch quân thù ra khỏi đất nước.</span></div>
<div></div>
<div><span><em>Xong múa giá chi, thử áo xuân </em></span></div>
<div><span><em>Hôm nay huống gặp tiết Cỏ xanh </em></span></div>
<div><span><em>Đầy mâm bánh cuốn như hồng ngọc </em></span></div>
<div><span><em>Phong tục từ xưa của nước </em></span><em><span>Nam</span></em></div>
<div></div>
<div><span>(Thác chi vũ bãi thí xuân sam </span></div>
<div><span>Huống trĩ kim triêu tam nguyệt tam </span></div>
<div><span>Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bĩnh </span></div>
<div><span>Tùng lai phong tục cựu An Nam) </span></div>
<div></div>
<div><span>Hay chỉ đơn giản đứng tựa lan can lặng lẽ ngắm nhìn núi xa vào một buổi chiều: </span></div>
<div></div>
<div><span><em>Chim hót nhởn nha hoa liễu dày </em></span></div>
<div><span><em>Bóng thềm nhà vẽ mây chiều bay </em></span></div>
<div><span><em>Chuyện đời khách đến thôi không hỏi </em></span></div>
<div><span><em>Cùng tựa lan can ngắm núi mây</em></span></div>
<div></div>
<div><span>(Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì </span></div>
<div><span>Họa đường thiền mẫn mộ vân phi </span></div>
<div><span>Khách lai bất vấn nhân gian sự </span></div>
<div><span>Cọng ỷ lan can khán thúy vi) </span></div>
<div></div>
<div><span><span>Thơ văn chữ Hán của vua Trần Nhân Tông đúng đã thể hiện được <em>“một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm quan triết học và cảm quan thế sự, có tinh thần lạc quan, yêu đời, tấm lòng vị tha của một nhân cách cỡ lớn và sự rung động tinh tế, lòng yêu tự do thích thảng của một nhà nghệ sĩ”</em>, chứ không phải chỉ chứa đựng những ý tưởng <em>“cực kỳ chán đời”</em> như có người đã nhận xét. Vị thế văn học của vua Trần Nhân Tông từ đó là rất lớn. Với <em>Cư trần lạc đạo phú</em> và <em>Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca</em>, vua Trần Nhân Tông là người mở đầu một giai đoạn văn học mới của lịch sử văn học Việt Nam, đó là giai đoạn văn học, mà tiếng Việt là chủ ngữ. Không những thế, với những vần thơ chữ Hán và những tác phẩm văn xuôi sắc sảo, vua Trần Nhân Tông đã cống hiến cho ta những cảm thụ mới mẻ về những vấn đề muôn đời của con người như thời gian và sự sống.</span></span>&nbsp;</p>
</div>
</div>
<div class="clear"></div>
</div>
<div id="page-1115" class="tab-content-small">
<div class="text">
<div><strong><span>Văn xuôi Trần Nhân Tông</span></strong></div>
<div></div>
<div><span>Trên đây, chúng ta mới đề cập đến mảng văn tiếng Việt và thơ chữ Hán của vua Trần Nhân Tông. Vua còn có một mảng văn chữ Hán mà cho đến nay chưa được công bố và nghiên cứu chưa đầy đủ. Đó là 22 lá thư vua Trần Nhân Tông đã viết gửi cho vua quan nhà Nguyên, trong cuộc đấu tranh chính trị và ngoại giao với chúng để bảo vệ chủ quyền đất nước, và kéo dài thời gian để củng cố và phát triển lực lượng nhằm đối phó với cuộc chiến tranh do kẻ thù áp đặt. Trong số những lá thư này, có những lá còn giữ được nguyên vẹn, có những lá chỉ còn đoạn phiến. Điểm đặc biệt là chúng hầu hết được bảo tồn trong các tư liệu Trung Quốc, chủ yếu là<em> Nguyên sử, Thiên Nam hành ký, Trần Cương Trung thi tập và An Nam chí lược.</em> Phía các sử liệu nước ta hình như không bảo lưu một văn bản nào. Có chăng thì cũng chép lại văn bản từ các tác phẩm vừa nêu. </span></div>
<div></div>
<div><span>Đọc những lá thư này, điểm đầu tiên dễ nhận thấy nhất là quan điểm trước sau như một của vua Trần Nhân Tông: Quan điểm không chịu đầu hàng giặc, không chấp nhận đánh mất chủ quyền quốc gia bằng cách thỏa mãn đòi hỏi của Hốt Tất Liệt, yêu cầu vua phải đích thân vào chầu tại Đại Đô ở Trung Quốc. Hốt Tất Liệt đã dùng nhiều mánh khóe lý luận khác nhau, từ lời dụ dỗ đường mật về quan tước mà y hứa ban cho, cho tới những lời đe dọa dùng vũ lực, và trên thực tế y đã hai lần dùng vũ lực để thực hiện ý đồ của mình, nhưng hoàn toàn thảm bại trước sức chiến đấu ngoan cường của quân và dân Đại Việt dưới sự lãnh đạo của vua Trần Nhân Tông. Không những thế, vua Trần Nhân Tông còn vạch trần bộ mặt giả nhân giả nghĩa của những lý lẽ mà Hốt Tất Liệt đưa ra. </span></div>
<div></div>
<div><span>Chẳng hạn, Hốt Tất Liệt khoe khoang rằng y đối đãi rất nồng hậu với những người chịu đến chầu, coi họ như con cái mà y có trách nhiệm thương yêu. Những sứ giả do y cử đến, đều nói lòng thương của y bao la như trời biển phủ khắp mọi nơi. Chúng thường dùng tới câu <em>“Nhất thị đồng nhân”</em>, tức đem lòng nhân từ ra mà thương yêu khắp hết mọi người như nhau cả. Trước những luận điệu ấy, vua Trần Nhân Tông vạch ra rằng, nếu Hốt Tất Liệt có lòng thương như thế, thì tại sao phải bắt vua vào chầu? Bắt vua vào chầu, lỡ dọc đường chết phơi xương thì thế nào? Điều đó chắc chắn làm tổn thương đến lòng nhân của hoàng đế thiên triều. Ta sẽ thấy trong các lá thư hai lý luận này thường được nêu ra để trả lời tại sao vua ta không chịu vào chầu Hốt Tất Liệt. </span></div>
<div></div>
<div><span>Vua Trần Nhân Tông hiểu rõ hơn bất cứ ai rằng, vào chầu tức đầu hàng giặc, tức đem chủ quyền quốc gia mà trao cho giặc. Cho nên về điểm này nhà vua dứt khoát không có sự nhượng bộ nào. Hốt Tất Liệt tưởng dùng vài ba lá thư có thể khuất phục được ý chí cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia của vua Trần Nhân Tông. Nhưng y đồng thời cũng biết rằng, vài ba lá thư với lời lẽ dụ dỗ đường mật thế nào đi nữa, cũng không thể khuất phục được ý chí bảo vệ chủ quyền ấy. Cho nên, bên cạnh những lá thư đó, y đã vung sẵn lưỡi gươm qua hai lần liên tiếp xua quân tiến đánh nước ta với đám tướng lĩnh dày dạn kinh nghiệm chiến trường và hàng chục vạn quân binh thuyền bè. Vậy mà y đã thất bại thảm hại. </span></div>
<div></div>
<div><span>Những lá thư viết cho các viên chức nhà Nguyên, mà chủ yếu là viết cho phái bộ Lương Tăng đến nước ta vào năm 1293, cũng thế. Đây là những lá thư vừa mềm mỏng, vừa đanh thép, lên án chính sách giả nhân giả nghĩa vừa nói, vạch trần những âm mưu đen tối nằm đằng sau những lời lẽ có vẻ quang minh chính đại. Một mặt khác, những lá thư này cho thấy thái độ khinh thường của triều đình ta đối với những kẻ đại diện cho thiên triều và thử thách khả năng chịu đựng của chúng. Trong <em>An Nam tức sự </em>của <em>Trần Cương Trung thi tập</em> 2 tờ 34a3-4, Trần Phu đã kể lại việc sứ bộ của y ngay khi đến nước ta đã bị triều đình Đại Việt đưa đi theo những con đường mới phát quang nhằm gây nỗi kinh hoàng cho chúng: <em>“Sứ thần đến nước ấy, lại không đi theo lối cũ, đều phải đục núi mở đường, trèo vượt quanh co, ý là muốn tỏ ra xa hiểm”. </em>Chúng biết thế, mà đành phải ngậm miệng đi theo, không dám đưa ra bất cứ một đòi hỏi nào. </span></div>
<div></div>
<div><span>Rồi khi đến Thăng Long, chúng phải qua nhiều lần đấu tranh, chúng mới được đi vào cửa Dương Minh, tức là cửa chính Nam của kinh thành, thay vì phải đi vào cửa Vân Hội hay cửa Nhật Tân mà triều đình ta đề nghị, như <em>Lương Tằng truyện</em> của <em>Nguyên sử </em>178 tờ 1b3-6 đã ghi:<em> “Tháng giêng năm Chí Nguyên 30 (1293) đến An Nam, Nước đó có 3 cửa. Giữa gọi là Dương Minh, trái gọi là Nhật Tân và phải gọi là Vân Hội. Bồi thần ra đón ngoài thành, sắp do cửa Nhật Tân để đi vào. Tăng rất giận, nói: ‘Đón chiếu không do cửa giữa, thế là ta làm nhục mệnh vua’. Liền trở về sứ quán. Thế rồi, mời mở cửa Vân Hội để đi vào. Tăng lại cho là không thể được. Rồi mới tự cửa Dương Minh đón chiếu vào. Tăng trách Nhật Tôn không tự mình ra đón chiếu”.</em></span></div>
<div></div>
<div><span>Đây có thể nói là những đòn nắn gân phái bộ thiên triều. Đòn nắn gân này trước đó vua Trần Nhân Tông đã cho Sài Thung nếm thử vào năm vua mới lên ngôi (1278), khi vua thiết yến hắn tại hành lang. Hắn tức giận trở về sứ quán. Đến khi vua ta báo sẽ thết tại điện Tập Hiền thì hắn mới đến, như <em>An </em></span><em><span>Nam</span></em><span><em> truyện</em> của <em>Nguyên sử</em> 209, tờ 4a11-12 đã ghi: <em>“Nhật Huyên theo lệ cũ, thết yến ở dưới hành lang. Bọn Thung không chịu đến dự yến. Khi đã trở về sứ quán, Nhật Huyên sai Phạm Minh Tự đưa thư tạ lỗi, đổi thết yến đến điện Tập Hiền”. </em></span></div>
<div></div>
<div><span>Phái bộ Trương Lập Đạo đến nước ta vào năm 1291 cũng nếm thử những đòn này, dù sau đó vua Trần Nhân Tông đã tiếp đãi chúng rất vui vẻ, như chính bản thân Trương Lập Đạo đã ghi nhận trong <em>Trương thượng thư hành lục</em> do tên Việt gian Lê Thực chép lại trong<em> An Nam chí lược</em> 3 tờ 45-47. </span></div>
<div></div>
<div><span>Hai mươi hai lá thư vua Trần Nhân Tông viết cho vua quan nhà Nguyên, do thế, là một tập văn đáng cho chúng ta đọc để thấy cuộc đấu tranh ngoại giao và tư tưởng đầy cam go và thử thách giữa ta và kẻ thù. Chúng thể hiện ý chí sắt đá không chỉ của vua Trần Nhân Tông, mà của cả dân tộc ta trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, cương quyết không nhượng bộ kẻ thù bất cứ dưới hình thức nào. Chúng vì vậy, có thể coi như mở đường cho sự ra đời của loại văn phục vụ trực tiếp sự nghiệp đấu tranh chính trị và quân sự, mà sau này Nguyễn Trãi nhân danh Lê Lợi đã thực hiện trong <em>Quân trung từ mênh tập</em>. </span></div>
<div></div>
<div><span>Loại văn này có đặc trưng của nó. Lời văn phải vừa tao nhã mềm dẻo, lại vừa đanh thép sắc bén. Phải có đủ lý lẽ để khuất phục kẻ thù về mặt tư tưởng, đánh trúng và đánh mạnh vào những tín niệm mà chúng coi như chân lý bất di bất dịch và tưởng không bao giờ có thể bị bác bỏ. Hốt Tất Liệt đã vạch ra cho vua Trần Nhân Tông thấy rằng, ở đời làm gì có người không chết, và trên cõi đất này làm gì có nơi bất tử. Nhưng vua Trần Nhân Tông cũng vạch cho y thấy rằng vấn đề không phải là chết hay không chết, mà vấn đề nằm ở chỗ cái chết ấy có lợi hại gì cho ai không. </span></div>
<div></div>
<div><span>Cũng như Hốt Tất Liệt tự hào về lòng nhân từ của y mà bao nhiêu đám quần thần xung quanh ra sức hết lời ca tụng, thì vua Trần Nhân Tông vạch ra rằng nếu y có một lòng thương như thế thì làm sao phải bắt vua vào chầu? Hốt Tất Liệt trả lời vào chầu sẽ được ban thưởng tước vị trọng hậu. Vua Trần Nhân Tông đáp lại rằng, vua không những muốn được ban thưởng trọng hậu mà chính mắt mình muốn thấy được quang cảnh Trung Quốc, song chỉ sợ chết dọc đường thì sự ban thưởng có ích gì nữa. Chết dọc đường thì đối với bản thân vua Trần Nhân Tông đã không có lợi, mà ngay cả đối với Hốt Tất Liệt cũng chẳng có lợi gì, thậm chí còn làm tổn thương đến lòng nhân từ bao la của y. </span></div>
<div></div>
<div><span>Những lá thư này không chỉ lý luận để khuất phục kẻ thù, mà còn tố cáo tội ác của chúng đối với nhân dân Đại Việt. Trong lá thư gửi cho vua Nguyên vào năm 1291 do Từ Minh Thiện chép lại trong <em>Thiên Nam hành ký</em> ở <em>Thuyết phu</em> 51 tờ 18b 6-7 vua Trần Nhân Tông đã kể những hành động tàn bạo cướp của giết người đốt nhà phá chùa của Ô Mã Nhi: <em>“Đến mùa đông năm Chí Nguyên 24 (1287) lại thấy đại quân thủy bộ cùng tiến, thiêu đốt chùa chiền khắp nước, đào bới mồ mả tổ tiên, bắt giết người dân già trẻ, đập phá sản nghiệp trăm họ, các việc tàn ngược không gì là không làm (&#8230;). Tham chính Ô Mã Nhi lâu nắm quân thuyền, riêng ra ngoài biển, bắt hết biên dân vùng biển, lớn thì giết, nhỏ thì bắt đi, đến nỗi treo trói mổ xẻ, thân một nơi đầu một ngả”.</em> Đây có thể nói là bản cáo trạng đầu tiên về tội ác chiến tranh do những tên xâm lược hiếu chiến gây ra, và nhất định chúng phải bị nhân dân ta trừng phạt đích đáng, mà lá thư năm 1291 gửi cho vua Nguyên đã chỉ ra. </span></div>
<div></div>
<div><span>Những lá thư vua Trần Nhân Tông viết cho vua quan nhà Nguyên, như thế có một vị trí văn học nhất định. Đặc biệt chúng đã đi đầu, tạo nên thể loại văn học mà sau này <em>Quân trung từ mênh tập</em> đã kế thừa và phát huy tới đỉnh cao hiệu lực của nó trong sự nghiệp đấu tranh với quân thù. Đây là loại văn học vừa đánh vừa đàm. Trọng lượng của lời nói trong những lá thư đàm phán được quyết định bằng những chiến thắng ngoài mặt trận. Nói cách khác, lời nói phải được yểm trợ và thể hiện bằng những hành động bạo lực. Cho nên, có những lúc, có những nơi dù lời nói có chính nghĩa, mà không có bạo lực thành công, đặc biệt trong quan hệ bang giao giữa hai nước, cũng không đạt được mục tiêu nó nhắm tới, là bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ chủ quyền quốc gia. </span></div>
<div></div>
<div><span>Những lá thư trên do vậy, có một vị trí văn học hết sức to lớn. Vị trí này cho đến nay vẫn chưa được đánh giá đúng mức, thậm chí có nơi còn lệnh lạc, đặc biệt là trong các giáo trình văn học sử Việt </span><span>Nam</span><span>. Cho nên chúng tôi nhấn mạnh một lần nữa ở đây để điều chỉnh lại cách đánh giá, nhằm làm rõ hơn những cống hiến đặc sắc mà vua Trần Nhân Tông đã đóng góp cho lịch sử văn học dân tộc ta. Đây cũng chính là lý do để cho chúng tôi sưu tập và công bố toàn bộ các lá thư do vua Trần Nhân Tông gửi cho vua quan nhà Nguyên. Từ trước tới nay, những lá thư này chưa hề được sưu tập và công bố một cách trọn vẹn, tối thiểu là trong giới hạn những tư liệu mà ta hiện biết. </span></div>
<div></div>
<div><span>Lối văn chữ Hán của những là thư này ít nhiều chịu ảnh hưởng văn phong tiếng Việt, đặc biệt có một số cấu trúc mà ta đã tìm thấy trong <em>Lục độ tập kinh</em>. Chẳng hạn trong lá thư thứ 5, theo cách đánh số của chúng tôi dưới đây, có câu: <em>“Bất năng thân kiến mạc quan, nhiên trung tâm hân hạnh”.</em> Cấu trúc trung tâm hân hạnh này là một cấu trúc tương đối đặc biệt. Dạng <em>trung tâm</em> chỉ thấy xuất hiện trong Kinh Thi, rồi sau đó trong bản dịch Lục độ tập kinh của Khương Tăng Hội<sup> (<a title="" name="_ftnref1" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn1"></a><sup><span>[1]</span></sup>)</sup>. Thế mà đến thế kỷ thứ 13, ngoài lá thư thứ 5 của vua Trần Nhân Tông vừa dẫn, ta còn gặp trong lá thư của vua Trần Thánh Tông viết gửi cho Hốt Tất Liệt vào tháng giêng năm Chí Nguyên thứ 12 (1275) chép trong An Nam truyện của Nguyên sử tờ 3b2-10 với câu <em>“trung tâm hỷ duyệt”</em>. Đây rõ ràng biểu thị ảnh hưởng của <em>Lục độ tập kinh</em>. Trong thơ của Tuệ Trung Trần Quốc Tung, ảnh hưởng của kinh này rất rõ qua bài <em>Vật bất năng dung</em>.<sup> (<a title="" name="_ftnref2" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn2"></a><sup>[2]</sup>)</sup> </span></div>
<div></div>
<div><span>Như vậy, thông qua những văn thư ngoại giao ấy ta còn biết thêm về những ảnh hưởng của kinh điển Phật giáo đối với loại văn chính luận không chỉ của vua Trần Nhân Tông, mà còn của những nhà thơ, nhà văn khác của triều Trần. Không chỉ có thế, những hình ảnh vua Trần Nhân Tông dùng trong văn thơ ngoại giao này bộc lộ ít nhiều quan điểm đánh giá của vua đối với Hốt Tất Liệt. Trong những lá thư, ta đọc thấy vua tự xưng mình là <em>“bề tôi nhỏ bé”</em> của Hốt Tất Liệt, nhưng hình ảnh mà vua dùng để có vẻ ca ngợi Hốt Tất Liệt thì hóa ra đó là một hình ảnh chê bai bóng gió. Ta nhiều lần bắt gặp vua Trần Nhân Tông nói đến Hốt Tất Liệt như <em>“núi biển bao hàm, dơ bẩn chứa hết”</em> (Văn thư số 9), hoặc<em> “với lượng càn khôn bao chứa đồ dơ”</em> (Văn thư số 20). Rõ ràng qua những lần xâm lược nước ta, lòng dạ Hốt Tất Liệt dĩ nhiên toàn bao chứa<em> “đồ dơ”</em> cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. </span></div>
<div></div>
<div><span>Các văn thư ngoại giao của vua Trần Nhân Tông, do thế, đáng được đọc và nghiên cứu kỹ, để thấy sự sâu sắc và hoành tráng của một con người đã từng dựng nên một thời đại anh hùng của dân tộc. Đấy là con người vừa kiên cường bất khuất, vừa mềm dẻo thâm trầm, đầy lòng độ lượng vị tha nhưng cũng tràn trề ý chí quyết chiến quyết thắng, cương quyết đè bẹp mọi ý đồ xâm phạm chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Chúng tôi công bố toàn bộ các văn thư hiện thu thập được với mục đích như thế.</span></div>
<div></div>
<div>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<div id="ftn1">
<div></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[1] Lê Mạnh Thát, Lục độ tập kinh và Lịch sử khởi nguyên dân tộc ta, Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1972, tr.264-271.</span></div>
<div></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[2] Lê Mạnh Thát, Tuệ Trung thượng sĩ toàn tập, cảo bản, 1979.</span></div>
<div></div>
<div style="text-align: center;">•••••</div>
<div></div>
</div>
</div>
</div>
<div class="clear"></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://trannhantong.net/2013/03/vi-tri-van-hoc-cua-tran-nhan-tong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Văn Trần Nhân Tông</title>
		<link>http://trannhantong.net/2013/03/van-tran-nhan-tong/</link>
		<comments>http://trannhantong.net/2013/03/van-tran-nhan-tong/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 17 Mar 2013 14:05:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Những tác phẩm của Trần Nhân Tông]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://trannhantong.net/?p=1031</guid>
		<description><![CDATA[HÀNH TRẠNG CỦA THƯỢNG SĨ TUỆ TRUNG&#160; Thượng sĩ là con trai đầu (lòng) của Khâm Minh Từ Thiện Thái Vương và anh cả của Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu. Khi thái vương mất, Hoàng đế (Trần) Thái Tông cảm nghĩa, phong cho tước Hưng Ninh Vương. Thuở nhỏ, Thượng sĩ bẩm tính thanh cao, nổi tiếng thuần hậu, được giao trấn giữ quân dân ở lộ Hồng. Hai lần giặc Bắc xâm lược, có công với nước, [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div id="page-4749" class="tab-content-small" style="display: block;">
<div class="text">
<div><strong><strong><span><span>HÀNH TRẠNG CỦA THƯỢNG SĨ TUỆ TRUNG</span></span></strong></strong>&nbsp;</p>
</div>
<div></div>
<div><span><span>Thượng sĩ là con trai đầu (lòng) của Khâm Minh Từ Thiện Thái Vương và anh cả của Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu. Khi thái vương mất, Hoàng đế (Trần) Thái Tông cảm nghĩa, phong cho tước Hưng Ninh Vương. </span></span></div>
<div>Thuở nhỏ, Thượng sĩ bẩm tính thanh cao, nổi tiếng thuần hậu, được giao trấn giữ quân dân ở lộ Hồng. Hai lần giặc Bắc xâm lược, có công với nước, lần hồi được thăng chuyển giữ chức Tiết độ sứ vùng biển trại Thái Bình.</div>
<div>Con người Thượng sĩ, khí lượng thâm trầm, phong thái nhàn nhã, từ tuổi để chỏm, rất mến cửa không. Đến tham vấn Thiền sư Tiêu Dao ở Phúc Đường, lĩnh hội yếu chỉ, bèn dốc lòng thờ làm thầy, ngày ngày chỉ lấy niềm vui thiền làm thích, không hề vì công danh mà trở ngại. Rồi lui về sống ở phong ấp Tịnh Bang, đổi làm hương Vạn Niên.</div>
<div>Thượng sĩ cùng đời hòa quang, chưa từng đụng chạm người vật, nên hay mạnh nối giống pháp, dìu dắt sơ cơ. Ai tìm đến hỏi, người cũng chỉ bảo cho biết điều cương yếu, khiến họ trụ tâm, mặc tính hành tàng, không mắc danh thực.</div>
<div>Đức Dụ Lăng mộ tiếng từ lâu, sai sứ vời vào cửa khuyết. Phàm những lời hầu chuyện nhà vua đều là siêu tục. Nhân thế, vua suy tôn làm sư huynh và ban cho tên hiệu hiện nay.</div>
<div>Một lần vào chầu, Thái hậu làm tiệc lớn đãi, Người gặp thịt cứ ăn. Thái hậu lấy làm lạ hỏi rằng: <em>“Anh tu thiền mà ăn thịt thì thành Phật sao được?”</em>. Thượng sĩ cười đáp: <em>“Phật là Phật, anh là anh. Anh chẳng cần làm Phật, Phật cũng chẳng cần làm anh. Em chẳng nghe cổ đức nói ‘Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát’ đó sao?”</em></div>
<div>Khi Thái hậu qua đời, đức Dụ Lăng trai tăng ở cung cấm. Nhân khi khai đường thuyết pháp bèn mời danh tăng bốn phương mỗi người làm một bài kệ ngắn để bày tỏ kiến giải của mình. Nhưng thảy đều “ngầu bùn sũng nước” chưa có chỗ ngộ. Đức Dụ Lăng bèn đem giấy đến cho Thượng sĩ. Thượng sĩ viết một hơi xong bài tụng tự thuật như sau:</div>
<div></div>
<div><span><em><span>Kiến giải bày kiến giải, </span></em></span></div>
<div><em>Tựa dụi mắt làm quái.</em></div>
<div><em>Dụi mắt làm quái rồi.</em></div>
<div><em>Sáng sủa thường tự tại.</em></div>
<div></div>
<div><span><span>Đức Dụ Lăng xem xong, viết tiếp: </span></span></div>
<div></div>
<div><span><em><span>Sáng sủa thường tự tại, </span></em></span></div>
<div><em>Cũng dụi mắt làm quái.</em></div>
<div><em>Thấy quái không thấy quái,</em></div>
<div><em>Quái kia liền tự hoại.</em></div>
<div></div>
<div><span><span>Thượng sĩ rất tâm phục bài kệ ấy. </span></span></div>
<div>Tới khi Đức Dụ Lăng ốm, Thượng sĩ viết thư hỏi bệnh. Mở ra xem, Đức Dụ Lăng viết kệ trả lời, có câu:</div>
<div></div>
<div><span><em><span>Mực nồng khí nóng mồ hôi đẫm, </span></em></span></div>
<div><em>Quần mẹ sinh ta ướt chửa từng.</em></div>
<div></div>
<div><span><span>Thượng sĩ đọc bài kệ, than thở giây lâu. Đến khi Đức Dụ Lăng trở bệnh nặng, Thượng sĩ tất tả tới cửa khuyết thì nhà vua đã quy tiên rồi. </span></span></div>
<div>Nay ta cũng nguyện đội ơn dạy dỗ của Thượng sĩ. Trước đây, khi ta chưa xuất gia, gặp lúc cư tang Nguyên Thánh mẫu hậu, nhân đó có đi thỉnh Thượng sĩ. Người trao cho hai bộ ngữ lục của Tuyết Đậu và Dã Hiên.<sup> (<a title="" name="_ftnref1" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn1"></a><sup>[1]</sup>)</sup> Ta cho người sống quá tục, sinh ngờ vực, bèn làm ra vẻ ngây thơ hỏi: <em>“Chúng sinh quen cái nghiệp uống rượu và ăn thịt, thì làm sao tránh được tội báo?”</em> Thượng sĩ liền giảng giải rằng:<em> “Giả thử có một người đứng quay lưng lại, thình lình có nhà vua đi qua phía sau, người kia không biết, hoặc có ném vật gì vào người vua. Người ấy có sợ chăng? Vua có giận chăng? Như thế thì biết rằng hai việc không liên quan gì đến nhau vậy.”</em> Nói rồi Thượng sĩ đọc hai bài kệ:</div>
<div></div>
<div><span><em><span>Vô thường các pháp hành, </span></em></span></div>
<div><em>Tâm ngờ tội liền sanh.</em></div>
<div><em>Xưa nay không một vật,</em></div>
<div><em>Chẳng mống cũng chẳng mầm.</em></div>
<div></div>
<div><span><span>Lại nói:</span></span></div>
<div></div>
<div><span><em><span>Ngày ngày khi đối cảnh. </span></em></span></div>
<div><em>Cảnh cảnh từ tâm ra.</em></div>
<div><em>Xưa nay không tâm cảnh.</em></div>
<div><em>Chốn chốn thảy bờ kia.</em></div>
<div></div>
<div><span><span>Ta lĩnh ý, giây lâu bèn nói: <em>“Tuy là như thế, nhưng tội phúc đã rõ ràng thì làm thế nào?”. </em></span></span></div>
<div>Thượng sĩ lại đọc tiếp bài kệ để chỉ bảo:</div>
<div></div>
<div><span><em><span>Ăn cỏ và ăn thịt, </span></em></span></div>
<div><em>Chúng sinh mỗi có thức.</em></div>
<div><em>Xuân về muôn cỏ sinh,</em></div>
<div><em>Chỗ nào thấy tội phúc.</em></div>
<div></div>
<div>Ta nói: <em>“Nếu vậy thì công phu giữ giới trong sạch không chút xao lãng là để làm gì?”</em></div>
<div>Thượng sĩ cười mà không đáp. Ta cố nài. Thượng sĩ lại đọc tiếp hai bài kệ để ấn chứng cho ta:</div>
<div></div>
<div><span><em>Trì giới và nhẫn nhục </em></span></div>
<div><em>Chuốc tội chẳng chuốc phúc.</em></div>
<div><em>Muốn biết không tội phúc,</em></div>
<div><em>Đừng trì giới nhẫn nhục.</em></div>
<div></div>
<div>Lại nói:</div>
<div></div>
<div><span><em>Như khi người leo cây, </em></span></div>
<div><em>Đang yên tự tìm nguy.</em></div>
<div><em>Nhu người không trèo nữa,</em></div>
<div><em>Trăng gió làm được gì.</em></div>
<div></div>
<div>Đoạn người dặn kín ta: <em>“Chớ có bảo cho người không đáng bảo.”</em> Vì vậy ta biết môn phong của Thượng sĩ thật là siêu việt.</div>
<div>Một hôm, ta hỏi người về tôn chỉ công việc mình. Thượng sĩ ứng khẩu đáp: <em>“Hãy quay nhìn lại công việc của chính bản thân mình chứ không tìm đâu khác được.”</em> Ta bỗng bừng tỉnh con đường phải đi, bèn xốc áo, thờ làm thầy.</div>
<div>Ôi! Thượng sĩ là người thần thái nghiêm trang, cử chỉ đĩnh đạc. Bàn huyền thuyết diệu như gió mát trăng thanh. Đương thời thạc đức các phương, có người cho Thượng sĩ tin sâu biết rõ, làm ngược làm xuôi, thật khó mà lường được.</div>
<div>Sau, người nhuốm bệnh ở trang Dưỡng Chân, không ở phòng riêng, mà cho kê một chiếc giường gỗ giữa ngôi nhà trống, nằm theo thế cát tường, nhắm mắt mà tịch. Người hầu hạ và thê thiếp trong nhà khóc rống lên. Thượng Sĩ mở mắt ngồi dậy, gọi người lấy nước rửa tay, súc miệng, đoạn quở nhẹ rằng: <em>“Sống chết là lẽ thường, làm gì phải xót thương quyến luyến làm rối chân tính của ta?</em>” Dứt lời người êm thấm mà tịch. Bấy giờ là ngày mồng một tháng tư năm Tân Mão, niên hiệu Trùng Hưng năm thứ bảy, hưởng thọ 62 tuổi.</div>
<div>Ta thân đến nhà làm lễ viếng và làm bài <em>Thiêu hương báo ân tụng</em>, nhưng không chép ra đây.</div>
<div>Sau khi nối đạo, những lúc lên đàn thuyết pháp, ta tự nghĩ có bốn điều ân nặng, sửa pháp khó đền, nên sai thợ vẽ chân dung của người để dâng cúng, và tự làm bài tụng, ghi rằng:</div>
<div></div>
<div><span><em>Đây bậc cổ chùy, </em></span></div>
<div><em>Người đâu dễ vẽ</em></div>
<div><em>Thước góc Lương hoàng,</em></div>
<div><em>Mõ chuông Thái đế.</em></div>
<div><em>Hay tròn hay vuông</em></div>
<div><em>Mỏng dầy đủ vẻ.</em></div>
<div><em>Biển pháp một ngươi,</em></div>
<div><em>Rừng thiền ba phía.</em></div>
<div></div>
<div>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<div id="ftn1">
<div></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[1] Tuyết Đậu: thiền sư Trùng Hiển (980 &#8211; 1052) phái Vân Môn, tác giả của Tuyết Đậu minh giác ngữ lục.</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">Dã Hiên: gọi đủ là Dã Hiên Tuân của phái Lâm Tế, sống sau năm 865, mất trước năm 999, hiện còn một bài thơ chép trong Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập, 21.</span></div>
<div></div>
<div style="text-align: center;"><span style="font-size: 14px;">•</span><span style="font-size: 14px;">•</span><span style="font-size: 14px;">•</span><span style="font-size: 14px;">•</span><span style="font-size: 14px;">•</span></div>
<div></div>
</div>
</div>
</div>
<div class="clear"></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://trannhantong.net/2013/03/van-tran-nhan-tong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Phú Trần Nhân Tông</title>
		<link>http://trannhantong.net/2013/03/phu-tran-nhan-tong/</link>
		<comments>http://trannhantong.net/2013/03/phu-tran-nhan-tong/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 17 Mar 2013 14:04:37 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Những tác phẩm của Trần Nhân Tông]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://trannhantong.net/?p=1030</guid>
		<description><![CDATA[CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ HỘI THỨ NHẤT Mình ngồi thành thị; Nết dụng sơn lâm. Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tính; Nửa ngày rồi tự tại thân tâm. Tham ái nguồn dừng, Chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quý; Thị phi tiếng lặng, Được dầu nghe yến thốt oanh ngâm. Chơi nước biếc, ẩn non xanh, Nhân gian có nhiều người đắc ý; Biết đào hồng, hay liễu lục, Thiên hạ năng mấy chủ tri âm. Nguyệt bạc [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div class="text" style="text-align: justify;">
<div style="text-align: left;"><strong><span>CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ</span></strong></div>
<div style="text-align: left;"></div>
<div style="text-align: left;"><strong><strong>HỘI THỨ NHẤT</strong></strong></div>
<div style="text-align: left;"></div>
<div style="text-align: left;"><span>Mình ngồi thành thị;</span></div>
<div style="text-align: left;">Nết dụng sơn lâm.</div>
<div style="text-align: left;">Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tính;</div>
<div style="text-align: left;">Nửa ngày rồi tự tại thân tâm.</div>
<div style="text-align: left;">Tham ái nguồn dừng,</div>
<div style="text-align: left;">Chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quý;</div>
<div style="text-align: left;">Thị phi tiếng lặng,</div>
<div style="text-align: left;">Được dầu nghe yến thốt oanh ngâm.</div>
<div style="text-align: left;">Chơi nước biếc, ẩn non xanh,</div>
<div style="text-align: left;">Nhân gian có nhiều người đắc ý;</div>
<div style="text-align: left;">Biết đào hồng, hay liễu lục,</div>
<div style="text-align: left;">Thiên hạ năng mấy chủ tri âm.</div>
<div style="text-align: left;">Nguyệt bạc vừng xanh,</div>
<div style="text-align: left;">Soi mọi chỗ thiền hà lai láng;</div>
<div style="text-align: left;">Liễu mềm hoa tốt,</div>
<div style="text-align: left;">Ngất quần sinh tuệ nhật sâm lâm.</div>
<div style="text-align: left;">Lo hoán cốt, ước phi thăng,</div>
<div style="text-align: left;">Đan thần mới phục;</div>
<div style="text-align: left;">Nhắm trường sinh, về thượng giới,</div>
<div style="text-align: left;">Thuốc thỏ còn đam.</div>
<div style="text-align: left;">Sách Dịch xem chơi,</div>
<div style="text-align: left;">Yêu tính sáng yêu hơn châu báu;</div>
<div style="text-align: left;">Kinh nhàn đọc dấu (<a title="" name="_ftnref1" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn1"></a><sup><sup>[1]</sup></sup>),</div>
<div style="text-align: left;">Trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim.</div>
<div style="text-align: left;"></div>
<div style="text-align: left;"></div>
<div style="text-align: left;"><strong><span>HỘI THỨ HAI</span></strong></div>
<div style="text-align: left;"></div>
<div style="text-align: left;"><span>Biết vậy!</span></div>
<div style="text-align: left;">Miễn được lòng rồi;</div>
<div style="text-align: left;">Chẳng còn phép khác.</div>
<div style="text-align: left;">Gìn tính sáng tính mới hầu an;</div>
<div style="text-align: left;">Nén niềm vọng, niềm dừng chẳng thác.</div>
<div style="text-align: left;">Dứt trừ nhân ngã, thì ra tướng thực kim cương;</div>
<div style="text-align: left;">Dừng hết tham sân, mới lảu lòng màu viên giác.</div>
<div style="text-align: left;">Tịnh độ là lòng trong sạch,</div>
<div style="text-align: left;">Chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương;</div>
<div style="text-align: left;">Di Đà là tính sáng soi,</div>
<div style="text-align: left;">Mựa<sup> (<a title="" name="_ftnref2" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn2"></a><sup>[2]</sup>)</sup> phải nhọc tìm về Cực lạc.</div>
<div style="text-align: left;">Xét thân tâm, rèn tính thức,</div>
<div style="text-align: left;">Há rằng mong quả báo phô khoe;</div>
<div style="text-align: left;">Cầm giới hạnh, địch vô thường,</div>
<div style="text-align: left;">Nào có sá cầu danh bán chác.</div>
<div style="text-align: left;">Ăn rau ăn trái,</div>
<div style="text-align: left;">Nghiệp miệng chẳng hiềm thuở đắng cay;</div>
<div style="text-align: left;">Vận giấy vận sồi<sup> (<a title="" name="_ftnref3" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn3"></a><sup>[3]</sup>)</sup>, thân căn có ngại chi đen bạc.</div>
<div style="text-align: left;">Nhược chỉn<sup> (<a title="" name="_ftnref4" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn4"></a><sup>[4]</sup>)</sup> vui bề đạo đức,</div>
<div style="text-align: left;">Nửa gian lều quý nữa thiên cung;</div>
<div style="text-align: left;">Dầu hay mến thuở nhân nghì,</div>
<div style="text-align: left;">Ba phiến ngói yêu hơn lầu gác.</div>
<div style="text-align: left;"></div>
<div style="text-align: left;"></div>
<div style="text-align: left;"><strong>HỘI THỨ BA</strong></div>
<div style="text-align: left;"></div>
<div style="text-align: left;">Nếu mà cốc,<sup> (<a title="" name="_ftnref5" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn5"></a><sup>[5]</sup>)</sup></div>
<div style="text-align: left;">Tội ắt đã không.</div>
<div style="text-align: left;">Phép học lại thông.</div>
<div style="text-align: left;">Gìn tính sáng, mựa lạc tà đạo;</div>
<div style="text-align: left;">Thửa<sup> (<a title="" name="_ftnref6" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn6"></a><sup>[6]</sup>)</sup> mình học, cho phải chính tông.</div>
<div style="text-align: left;">Chỉn bụt là lòng, xá<sup> (<a title="" name="_ftnref7" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn7"></a><sup>[7]</sup>)</sup> ướm hỏi đòi cơ Mã tổ;</div>
<div style="text-align: left;">Vong tài đối sắc, ắt tìm cho phải thói Bàng công.</div>
<div style="text-align: left;">Áng tư tài, tính sáng chẳng tham,</div>
<div style="text-align: left;">Há vì ở Cánh Diều Yên Tử;</div>
<div style="text-align: left;">Rần thanh sắc niềm dừng chẳng chuyển,</div>
<div style="text-align: left;">Lọ chi ngồi am Sạn non Đông.</div>
<div style="text-align: left;">Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc</div>
<div style="text-align: left;">Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thực cả đồ <sup>(<a title="" name="_ftnref8" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn8"></a><sup>[8]</sup>) </sup>công.</div>
<div style="text-align: left;"></div>
<div style="text-align: left;">Nguyền mong thân cận minh sư,</div>
<div style="text-align: left;">Quả bồ đề một đêm mà chín;</div>
<div style="text-align: left;">Phúc gặp tình cờ tri thức,</div>
<div style="text-align: left;">Hoa ưu đàm mấy kiếp đơm bông.</div>
<div style="text-align: left;"></div>
<div style="text-align: left;">
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<div id="ftn1">
<div></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[1] Dấu: yêu dấu</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[2] Mựa: chớ</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[3] Giấy, sồi: các loại vải xấu</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[4] Chỉn: chỉ, chính</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[5] Cốc: biết</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[6] Thửa: biết</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[7] Xá: hãy, nên</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[8] Đồ: uổng</span></div>
<div></div>
</div>
</div>
</div>
<div class="text" style="text-align: left;">
<div><strong><span>HỘI THỨ TƯ</span></strong></div>
<div></div>
<div><span>Tin xem:</span></div>
<div><span>Miễn cốc một lòng;</span></div>
<div><span>Thì rồi mọi hoặc.</span></div>
<div><span>Chuyển tam độc mới chứng tam thân;</span></div>
<div><span>Đoạn lục căn, nên trừ lục tặc.</span></div>
<div><span>Tìm đường hoán cốt,</span></div>
<div><span>chỉn xá năng phục dược luyện đan;</span></div>
<div><span>Hỏi phép chân không,</span></div>
<div><span>hề chi lánh ngại thanh chấp sắc.</span></div>
<div></div>
<div><span>…</span></div>
<div></div>
<div><span><sup> </sup></span>Hỏi: “<em>Chân như là cái gì?</em>”</div>
<div><span>Đáp: “<em>Trong lắng sáng tròn rực thái hư”</em></span></div>
<div><span>Lại hỏi: <em>“Bát nhã là gì?”</em></span></div>
<div><span>Đáp: “Nguồn gốc trí tuệ tự mình”.</span></div>
<div><span><span>Lại hỏi: “Chân Phật là gì?”</span></span></div>
<div><span><span>Đáp: <em>“Đương cơ đối đáp là ai?”</em></span></span></div>
<div><span><span>Lại hỏi: <em>“Chân kinh là gì?”</em></span></span></div>
<div><span><span>Đáp: <em>“Đương cơ nêu lên quá rõ ràng”.</em></span></span></div>
<div><span><span>Lại hỏi: “Thế nào là truyền giao?”</span></span></div>
<div><span><span>Đáp: <em>“Thầy trò bốn mắt nhìn nhau.”</em></span></span></div>
<div><span><span>Lại hỏi: <em>“Hiểu ý là thế nào?”</em></span></span></div>
<div><span><span>Đáp: <em>“Trở về nguồn gốc không bàn nghĩ.</em></span></span></div>
<div><span><em><span>Nếu có bàn nghĩ thì sa ngã thôi.”</span></em></span></div>
<div></div>
<div><span><span>Kệ rằng:</span></span></div>
<div></div>
<div><span><em><span>Nó nay chính là ta</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Ta nay không là nó</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Nếu hay hiểu như vậy</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Chân như mới được rõ</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Hiểu lòng mình là Phật</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Nên gọi rõ đạt chân như</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Hiểu lòng mình là Pháp</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Nên gọi pháp môn một chữ</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Muôn pháp về một</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Nên gọi nhất thể Như Lai</span></em></span></div>
<div></div>
<div><span><span>Kệ rằng<em>:</em></span></span></div>
<div></div>
<div><span><em><span>Tất cả muôn pháp</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Đều tự tâm sinh</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Tâm không chỗ sinh</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Pháp không chỗ trụ</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Nếu hiểu đất lòng</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Ứng dụng không ngại</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Chẳng gặp thượng căn</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Thận trọng chớ hứa</span></em></span></div>
<div></div>
<div><span><span>Lại kệ:</span></span></div>
<div></div>
<div><span><em><span>Chân như bát nhã tông</span></em></span></div>
<div><span><span>Biết chân như, tin bát nhã,</span></span></div>
<div><span><span>chớ còn tìm Phật tổ Tây Đông;</span></span></div>
<div><span><span>Chứng thực tướng, ngõ vô vi,</span></span></div>
<div><span>nào nhọc hỏi kinh Thiền Nam Bắc.<sup>1</sup></span></div>
<div><span>Xem Tam tạng giáo,</span></div>
<div><span>ắt học đòi Thiền uyển thanh quy;</span></div>
<div><span>Đốt ngũ phận hương,</span></div>
<div><span>chẳng tốn đến chiên đàn chiêm bặc.</span></div>
<div><span>Tích nhân nghì, tu đạo đức,</span></div>
<div><span>ai hay này chẳng Thích Ca;</span></div>
<div><span>Cầm giới hạnh, đoạn xan tham,</span></div>
<div><span><span>chỉn thực ấy là Di Lặc.</span></span></div>
<div></div>
<div><span><span>…</span></span></div>
<div></div>
<div><span><em><span>Người không, ta cũng không</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Phật quá hiện vị lai</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Tính pháp vốn vẫn chung</span></em></span></div>
<div></div>
<div><span><span>Lại nói:</span></span></div>
<div></div>
<div><span><em><span>Đường đường mặt mũi thực</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Lồ lộ chủ nhân ông</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Bao hàm ngoài trời đất</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Xuyên suốt giữa biển sông</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Lúc dùng thành diệu hữu</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Chỗ lặng thật hư không</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Người người đều đầy đủ</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Vật vật thảy tròn không</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Từ nay lĩnh ngộ được</span></em></span></div>
<div><span><em><span>Thôi việc chạy tây đông.</span></em></span></div>
<div><span> </span></div>
<div></div>
<div><strong><span><span>HỘI THỨ NĂM</span></span></strong></div>
<div><strong><span> </span></strong></div>
<div><span><span>Vậy mới hay!</span></span></div>
<div><span><span>Bụt ở cong<sup> (<a title="" name="_ftnref1" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn1"></a><sup><span>[1]</span></sup>)</sup> nhà;</span></span></div>
<div><span><span>Chẳng phải tìm xa.</span></span></div>
<div><span><span>Nhân khuấy bổn<sup> (<a title="" name="_ftnref2" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn2"></a><sup><span>[2]</span></sup>)</sup> nên ta tìm bụt;</span></span></div>
<div><span><span>Đến cốc hay chỉn bụt là ta.</span></span></div>
<div><span><span>Thiền ngỏ năm câu, nằm nhãng cong quê Hà hữu;</span></span></div>
<div><span><span>Kinh xem ba biến<sup> (<a title="" name="_ftnref3" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn3"></a><sup><span>[3]</span></sup>)</sup>, ngồi ngơi mái quốc Tân la.</span></span></div>
<div><span><span>Trong đạo nghĩa, khoáng cơ quan,</span></span></div>
<div><span><span>đà lọt lẫn trường kinh cửa tổ;</span></span></div>
<div><span><span>Lánh thị phi, ghê thanh sắc,</span></span></div>
<div><span><span>ngại chơi bời dặm liễu đường hoa.</span></span></div>
<div><span><span>Đức bụt từ bi,</span></span></div>
<div><span><span>mong nhiều kiếp nguyền cho thân cận;</span></span></div>
<div><span><span>Ơn Nghêu khoáng cả,</span></span></div>
<div><span><span>lọt toàn thân phô việc đã tha.</span></span></div>
<div><span><span>Áo miễn<sup> (<a title="" name="_ftnref4" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn4"></a><sup><span>[4]</span></sup>)</sup> chăn đầm ấm qua mùa,</span></span></div>
<div><span><span>hoặc chằm hoặc xể<sup>  (<a title="" name="_ftnref5" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn5"></a><sup><span>[5]</span></sup>)</sup>;</span></span></div>
<div><span><span>Cơm cùng cháo đói no đòi bữa, dầu bạc dầu thoa <sup>(<a title="" name="_ftnref6" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn6"></a><sup><span>[6]</span></sup>)</sup>.</span></span></div>
<div><span><span>Ngăn bát thức, nén bát phong, càng đè càng bội;</span></span></div>
<div><span><span>Lẫy tam huyền, nong tam yếu, một cất một ma<sup> (<a title="" name="_ftnref7" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn7"></a><sup><span>[7]</span></sup>)</sup>.</span></span></div>
<div><span><span>Cầm vốn thiếu huyền,<sup> (<a title="" name="_ftnref8" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn8"></a><sup><span>[8]</span></sup>)</sup></span></span></div>
<div><span><span>xá đàn dấu xoang<sup> (<a title="" name="_ftnref9" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn9"></a><sup><span>[9]</span></sup>)</sup> vô sinh khúc;</span></span></div>
<div><span><span>Địch chăng có lỗ,</span></span></div>
<div><span><span>cũng bấm chơi xướng thái bình ca.</span></span></div>
<div><span><span>Lẫy cội tìm cành, còn khá tiếc Câu Chi trưởng lão;</span></span></div>
<div><span><span>Khuấy đầu chấp bóng,</span></span></div>
<div><span><span>ắt kham cười Diễn Nhã Đạt Đa.</span></span></div>
<div><span><span>Lọt quyền Kim cương, há mặc hầu thông nên nóng</span></span></div>
<div><span><span>Nuốt bồng lật cứt, nào tay phải xước tượng da. </span></span></div>
<div><span> </span></div>
<div></div>
<div><strong><span>HỘI THỨ SÁU</span></strong></div>
<div></div>
<div><span>Thật thế!</span></div>
<div><span>Hãy xá vô tâm;</span></div>
<div><span>Tự nhiên hợp đạo.</span></div>
<div><span>Dừng tam nghiệp mới lặng thân tâm;</span></div>
<div><span>Đạt một lòng thì thông tổ giáo.</span></div>
<div><span>Nhận văn giải nghĩa,</span></div>
<div><span>rạc rài nên Thiền khách bơ vơ;</span></div>
<div><span>Chứng lý tri cơ, cứng cát phải nạp tăng khôn khéo.</span></div>
<div><span>Han<sup> (<a title="" name="_ftnref10" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn10"></a><sup><span>[10]</span></sup>)</sup> hữu lậu, han vô lậu,</span></div>
<div><span>bảo cho hay: the lọt, duộc thưng<sup> (<a title="" name="_ftnref11" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn11"></a><sup><span>[11]</span></sup>)</sup>;</span></div>
<div><span>Hỏi Đại thừa, hỏi Tiều thừa,</span></div>
<div><span>thưa thẳng tắt: lòi tiền, tơ<sup> (<a title="" name="_ftnref12" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn12"></a><sup><span>[12]</span></sup>)</sup> gáo.</span></div>
<div><span>Nhận biết làu làu lòng vốn,</span></div>
<div><span>chẳng ngại bề thời tiết nhân duyên;</span></div>
<div><span>Dồi cho vặc vặc tính gương,</span></div>
<div><span>nào có nhuốm căn trần huyên náo,</span></div>
<div><span>Vàng chửa hết quặng,</span></div>
<div><span>xá tua<sup> (<a title="" name="_ftnref13" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn13"></a><sup><span>[13]</span></sup>)</sup> chín phen đúc chín phen rèn;</span></div>
<div><span>Lộc chẳng còn tham,</span></div>
<div><span>miễn được một thì chay một thì cháo.</span></div>
<div><span>Sạch giới lòng, dồi giới tướng,</span></div>
<div><span>nội ngoại nên Bồ tát trang nghiêm;</span></div>
<div><span>Ngay thờ chúa, thảo thờ cha,</span></div>
<div><span>đi đỗ mới trượng phu trung hiếu.</span></div>
<div><span>Tham thiền kén bạn, nát thân mình mới khá hồi ân;</span></div>
<div><span>Học đạo thờ thầy,</span></div>
<div><span>lọt xương óc chưa thông của báo.</span></div>
<div>
<div></div>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<div>
<div></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[1] Cong: Trong</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[2] Khuấy bổn: quên gốc</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[3] Biến: lần</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[4] Miễn: lẫn, với</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[5] Chằm: khâu; xể: để lòa xòa</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[6] Bạc; trắng; thoa: hẩm</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[7] Cất: nêu lên; ma: mà</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[8] Cầm: đàn cầm; huyền: dây</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[9] Xoang: tấu nhạc</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[10] Han: hỏi</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[11] The: vải thưa; Duộc: cái muỗng, vá; Thưng: ngăn, che</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[12] Lòi: dây cột; Tơ: dây kéo.</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[13] Tua: nên</span></div>
</div>
</div>
</div>
<div class="text" style="text-align: left;">
<div><strong><span>HỘI THỨ BẢY</span></strong></div>
<div></div>
<div><span>Vậy mới hay:</span></div>
<div>Phép bụt trọng thay;</div>
<div>Rèn mới cốc hay.</div>
<div>Vô minh hết bồ đề thêm sáng;</div>
<div>Phiền não rồi đạo đức càng say.</div>
<div>Xem phỏng lòng kinh, lời bụt thốt dễ cho thấy dấu;</div>
<div>Học đòi cơ tổ,</div>
<div>xá<sup> (<a title="" name="_ftnref1" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn1"></a><sup>[1]</sup>) </sup>thiền không khôn chút biết nay (nơi).</div>
<div>Cùng căn bản, rửa trần duyên,</div>
<div>mựa để mấy hào ly đương mặt;</div>
<div>Ngã thắng chàng, viên tri kiến,</div>
<div>chớ cho còn họa giữa cong tay.</div>
<div>Buông lửa giác ngộ,</div>
<div>đốt hoại thảy rừng tà ngày trước;</div>
<div>Cầm kiếm trí tuệ,</div>
<div>quét cho không tính thức thuở nay.</div>
<div>Vâng ơn Thánh, xót mẹ cha, thờ thầy học đạo;</div>
<div>Mến đức Cồ, kiêng bùi ngọt, cầm giới ăn chay.</div>
<div>Cảm đức từ bi, để nhiều kiếp nguyền cho thân cận;</div>
<div>Đội ơn cứu độ, nát muôn thân thà chịu đắng cay.</div>
<div>Nghĩa hãy nhớ, đạo chẳng quên,</div>
<div>hương hoa cúng xem còn nên thảo;</div>
<div>Miệng rằng tin, lòng lại lỗi,</div>
<div>vàng ngọc thờ cũng chửa hết ngay.</div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong><span>HỘI THỨ TÁM</span></strong></div>
<div></div>
<div>Chưng ấy:</div>
<div>Chỉn xá tua rèn;</div>
<div>Chớ nên tuyệt học.</div>
<div>Lay ý thức chớ chấp chằng chằng;</div>
<div>Nén niềm vọng mựa còn xóc xóc.</div>
<div>Công danh mảng đắm,</div>
<div>ấy toàn là những đứa ngây thơ;</div>
<div>Phúc tuệ gồm no, chỉn mới khá nên người thực cốc.</div>
<div>Dựng cầu đò, dồi chiền tháp,</div>
<div>ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu;</div>
<div>Săn hỷ xả, nhuyễn từ bi,</div>
<div>nội tự tại kinh Lòng hằng đọc.</div>
<div>Rèn lòng làm bụt, chỉn xá tua một sức dồi mài;</div>
<div>Đãi cát kén vàng, còn lại phải nhiều phen lựa lọc.</div>
<div>Xem kinh đọc lục,</div>
<div>làm cho bằng thửa thấy thửa hay;</div>
<div>Trọng bụt tu thân, dùng mựa lỗi một tơ một tóc.</div>
<div>Cùng nơi ngôn cú, chỉn chăng hề một phút ngại lo;</div>
<div>Rất thửa cơ quan, mựa còn để tăm hơi lọt lọc.</div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong><span>HỘI THỨ CHÍN</span></strong></div>
<div></div>
<div>Vậy cho hay:</div>
<div>Cơ quan tổ giáo;</div>
<div>Tuy khác nhiều đàng,</div>
<div>Chẳng cách mấy gang.</div>
<div>Chỉn xá nói từ sau Mã tổ;</div>
<div>Ắt đã quên thuở trước Tiêu Hoàng.</div>
<div>Công đức toàn vô, tính chấp si càng thêm lỗi;</div>
<div>Khuếch nhiên bất thức, tai ngu mảng<sup> (<a title="" name="_ftnref2" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn2"></a><sup>[2]</sup>)</sup> ắt còn vang.</div>
<div>Sinh Thiên Trúc, chết Thiếu Lâm,</div>
<div>chôn dối chân non Hùng Nhĩ;</div>
<div>Thân bồ đề, lòng minh kính,</div>
<div>bài giơ mặt vách hành lang.</div>
<div>Vương lão chém mèo,</div>
<div>rạt thảy<sup> (<a title="" name="_ftnref3" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn3"></a><sup>[3]</sup>)</sup> lòng ngừa thủ tọa;</div>
<div>Thầy hồ khua chó, trỏ xem trí nhẹ con giàng.<sup>(<a title="" name="_ftnref4" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn4"></a><sup>[4]</sup>)</sup></div>
<div>Chợ Lư Lăng gạo mắc quá ư, chẳng cho mà cả<sup> (<a title="" name="_ftnref5" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn5"></a><sup>[5]</sup>)</sup>;</div>
<div>Sở thạch đầu đá trơn hết tấc, khôn đến thưa đang.</div>
<div>Phá Táo cất cờ, đạp xuống dấu thiêng thần miếu;</div>
<div>Câu Chi dời ngón, dùng đòi nếp cũ ông ang<sup> (<a title="" name="_ftnref6" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn6"></a><sup>[6]</sup>)</sup>.</div>
<div>Lưỡi<sup> (<a title="" name="_ftnref7" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn7"></a><sup>[7]</sup>)</sup> gươm Lâm Tế, nạng Bí Ma,</div>
<div>trước nạp tăng no dầu tự tại;</div>
<div>Sư tử ông Đoan, trâu thầy Hựu,</div>
<div>răn đàn việt hượm <sup>(<a title="" name="_ftnref8" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn8"></a><sup>[8]</sup>)</sup> xá nghênh ngang.</div>
<div>Giơ phiến tử, cất trúc bề,</div>
<div>nghiệm kẻ học cơ quan nhẹ nhẵn;</div>
<div>Xô hòn cầu, cầm mộc thược,</div>
<div>bạn thiền hòa chước móc khoe khoang.</div>
<div>Thuyền Tử rà chèo, dòng xanh chửa cho tịnh tẩy;</div>
<div>Đạo Ngô múa hốt, càn ma dường thấy quái quàng.</div>
<div>Rồng Yểm Lão nuốt càn khôn, ta xem chỉn lệ<sup> (<a title="" name="_ftnref9" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn9"></a><sup>[9]</sup>)</sup>;</div>
<div>Rắn ông Tồn ngang thế giới, người thấy ắt dang<sup> (<a title="" name="_ftnref10" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn10"></a><sup>[10]</sup>)</sup>.</div>
<div>Cây bách là lòng,</div>
<div>thác ra trước phải phương Thái Bạch;</div>
<div>Bính đinh thuộc hỏa,</div>
<div>lại trở sau lỗi hướng Thiên cang.</div>
<div>Trà Triệu Lão, bánh Thiều Dương,</div>
<div>bầy thiền tử hãy còn đói khát;</div>
<div>Ruộng Tào Khê vườn Thiếu Thất,</div>
<div>chúng nạp tăng những để lưu hoang.</div>
<div>Gieo bó củi, nẩy bông đèn, nhân mang mới nết;</div>
<div>Lộc đào hoa, nghe tiếng trúc, mặc vẻ mà sang.</div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong><span>HỘI THỨ MƯỜI</span></strong></div>
<div></div>
<div>Tượng<sup> (<a title="" name="_ftnref11" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn11"></a><sup>[11]</sup>)</sup> chúng ấy,</div>
<div>Cốc một chân không;</div>
<div>Dùng đòi<sup> (<a title="" name="_ftnref12" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn12"></a><sup>[12]</sup>)</sup> căn khí.</div>
<div>Nhân lòng ta vướng chấp khôn thông;</div>
<div>Há cơ tổ nay còn thửa bí.</div>
<div>Chúng Tiểu thừa cốc hay chữa đến,</div>
<div>Bụt xá ngăn Bảo sở hóa thành;</div>
<div>Đấng Thượng sĩ chứng thực mà nên,</div>
<div>ai ghẻ<sup> (<a title="" name="_ftnref13" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn13"></a><sup>[13]</sup>)</sup> có sơn lâm thành thị.</div>
<div>Núi hoang rừng quạnh, ấy là nơi dật sĩ tiêu dao;</div>
<div>Chiền<sup> (<a title="" name="_ftnref14" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn14"></a><sup>[14]</sup>)</sup> vắng am thanh,</div>
<div>chỉn thực cảnh đạo nhân du hý.</div>
<div>Ngựa cao tán cả,</div>
<div>Diêm vương nào kể đứa nghênh ngang;</div>
<div>Gác ngọc lầu vàng,</div>
<div>ngục tốt thiếu chi người yêu quý.</div>
<div>Chuộng công danh, lồng nhân ngã,</div>
<div>thực ấy phàm phu;</div>
<div>Say đạo đức, dời thân tâm,</div>
<div>định nên thánh trí.</div>
<div>Mày ngang mũi dọc,</div>
<div>tướng tuy lạ xem ắt bằng nhau;</div>
<div>Mắt thánh lòng phàm,</div>
<div>thực cách nhẫn<sup> (<a title="" name="_ftnref15" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn15"></a><sup>[15]</sup>)</sup> vàn vàn thiên lý.</div>
<div></div>
<div><em>Kệ rằng:</em></div>
<div></div>
<div><span>Cư trần lạc đạo thả tùy duyên</span></div>
<div>Cơ tắc xan hề khốn tắc miên</div>
<div>Gia trung hữu bảo hưu tầm mích</div>
<div>Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền</div>
<div></div>
<div>(Ở đời vui đạo, hãy tùy duyên,</div>
<div>Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền.</div>
<div>Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,</div>
<div>Đối cảnh vô tâm, chớ hỏi thiền).</div>
<div></div>
<div>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<div id="ftn1">
<div></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[1] Xá: đường xá</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[2] Mảng: nghe</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[3] Rạt thảy: dẹp hết (sát rạt)</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[4] con giàng: cái giường</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[5] mà cả: mặc cả</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[6] ang: cha</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[7] Lưỡi: bản năm 1754 không có, lấy từ bản 1932 điền vào.</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[8] Hượm: chớ.</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[9] Lệ: sợ.</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[10] dang: tránh (ra)</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[11] Tượng: phàm, hễ</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[12] đòi: theo</span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[13] ghẻ: chia rẽ</span></div>
</div>
<div><span style="font-size: 12px;">[14] chiền: chùa </span></div>
<div><span style="font-size: 12px;">[15] Nhẫn: đến, tới</span></div>
<div id="ftn14"></div>
</div>
</div>
<div class="text" style="text-align: left;">
<div><strong>ĐẮC THÚ LÂM TUYỀN THÀNH ĐẠO CA</strong></div>
<div></div>
<div>Sinh có nhân thân,</div>
<div>Ấy là họa cả;</div>
<div>Ai hay cốc được,</div>
<div>Mới óc<sup> (<a title="" name="_ftnref1" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn1"></a><sup><span>[1]</span></sup>)</sup> là đã.</div>
<div><span>Tuần này mà ngẫm,</span></div>
<div><span>Ta lại xá ta;</span></div>
<div><span>Đắc ý cong lòng,</span></div>
<div><span>Cười riêng ha hả.</span></div>
<div><span>Công danh chẳng trọng,</span></div>
<div><span>Phú quý chẳng màng;</span></div>
<div><span>Tần Hán xưa kia,</span></div>
<div><span>Xem đà hèn hạ.</span></div>
<div><span>Yên bề phận khó,</span></div>
<div><span>Kiếm chốn dưỡng thân;</span></div>
<div><span>Khuất tịch non cao,</span></div>
<div><span>Náu mình sơn dã.</span></div>
<div><span>Vượn mừng hủ hỷ,</span></div>
<div><span>Làm bạn cùng ta;</span></div>
<div><span>Vắng vẻ ngàn kia,</span></div>
<div><span>Thân lòng hỷ xả.</span></div>
<div><span>Thanh nhàn vô sự,</span></div>
<div><span>Quét tước đài hoa;</span></div>
<div><span>Thờ phụng bụt trời,</span></div>
<div><span>Đêm ngày hương hỏa.</span></div>
<div><span>Tụng kinh niệm bụt,</span></div>
<div><span>Chúc thánh khẩn cầu;</span></div>
<div><span>Tam hữu tứ ân,</span></div>
<div><span>Ta nguyền được bả.<sup> (<a title="" name="_ftnref2" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn2"></a><sup><span>[2]</span></sup>)</sup></span></div>
<div><span>Niệm lòng vặc vặc,</span></div>
<div><span>Giác tính quang quang;</span></div>
<div><span>Chẳng còn bỉ thử.</span></div>
<div><span>Tranh nhân chấp ngã.</span></div>
<div><span>Trần duyên rũ hết,</span></div>
<div><span>Thị phi chẳng hề.</span></div>
<div><span>Rèn một tấm lòng,</span></div>
<div><span>Đêm ngày đon đả.</span></div>
<div><span>Ngồi cong trần thế,</span></div>
<div><span>Chẳng quản sự thay.</span></div>
<div><span>Văng vẳng ngàn kia,</span></div>
<div><span>Dầu lòng dong thả.</span></div>
<div><span>Học đòi chư Phật,</span></div>
<div><span>Cho được viên thành;</span></div>
<div><span>Xướng khúc vô sinh.</span></div>
<div>An thiền tiêu sá.</div>
<div>Ai ai xá cốc,</div>
<div>Bằng huyễn chiêm bao;</div>
<div>Xẩy tỉnh giấc hòe,</div>
<div>Châu rơi lã chã.</div>
<div>Cốc hay thân huyễn,</div>
<div>Chẳng khác phù vân;</div>
<div>Vạn sự giai không,</div>
<div>Tựa dường bọt bể.</div>
<div>Đem mình náu tới,</div>
<div>Cảnh vắng ngàn kia;</div>
<div>Dốc chí tu hành,</div>
<div>Giấy sồi bô bả.</div>
<div>Lành người chẳng chớ.</div>
<div>Dữ người chẳng hay;</div>
<div>Ngậm miệng đắp tai,</div>
<div>Hề chi họa cả.</div>
<div>An thân lập mệnh.</div>
<div>Thời tiết nhân duyên;</div>
<div>Cắt thịt phân cho,</div>
<div>Dầu là chim cá.</div>
<div>Thân này chẳng quản.</div>
<div>Bữa đói bữa no;</div>
<div>Địa thủy hỏa phong,</div>
<div>Dầu là biến hóa.</div>
<div>Pháp thân thường trụ,</div>
<div>Phổ mãn thái hư,</div>
<div>Hiển hách mục tiền,</div>
<div>Viên dung lõa lõa.</div>
<div>Thiền tông chỉ thị,</div>
<div>Mục kích đạo tồn;</div>
<div>Không cốc truyền thanh,</div>
<div>Âm hưởng ứng dã.</div>
<div>Phô<sup> (<a title="" name="_ftnref3" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftn3"></a><sup><span>[3]</span></sup>)</sup> người học đạo,</div>
<div>Vô số nhiều thay;</div>
<div>Trúc hóa nên rồng,</div>
<div><span>Một hai là họa.</span></div>
<div><span>Bởi lòng vờ vịt,</span></div>
<div><span>Trỏ Bắc làm Nam;</span></div>
<div><span>Nhất chỉ đầu thiền,</span></div>
<div><span>Sát na hết cả.</span></div>
<div></div>
<div><span>Kệ rằng:</span></div>
<div></div>
<div><span>Cảnh tịch an cư tự tại tâm</span></div>
<div><span>Lương phong xuy đệ nhập tùng âm</span></div>
<div><span>Thiền sàng thọ hạ nhất kinh quyển</span></div>
<div><span>Lưỡng tự thanh nhàn thắng vạn câm</span></div>
<div><span>(Cảnh vắng sống yên tự tại hồn,</span></div>
<div><span>Bóng tùng gió mát thổi từng cơn.</span></div>
<div><span>Giường thiền một quyển kinh bên gốc,</span></div>
<div><span>Hai chữ thanh nhàn vạn nén hơn)</span></div>
<div>
<div></div>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<div></div>
<div>
<div><span style="font-size: 12px;"><a title="" name="_ftn1" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftnref1"></a>[1] óc: gọi, kêu</span></div>
</div>
<div id="ftn1">
<div><span style="font-size: 12px;"><a title="" name="_ftn2" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftnref2"></a>[2] Bả: trả</span></div>
</div>
<div>
<div><span style="font-size: 12px;"><a title="" name="_ftn3" href="http://trannhantong.org/admin/#_ftnref3"></a>[3] Phô: nhiều</span></div>
</div>
<div id="ftn3">
<div></div>
<div style="text-align: center;"><span style="font-size: 14px;">•</span><span style="font-size: 14px;">•</span><span style="font-size: 14px;">•</span><span style="font-size: 14px;">•</span><span style="font-size: 14px;">•</span></div>
<div style="text-align: center;"></div>
</div>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://trannhantong.net/2013/03/phu-tran-nhan-tong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thơ Trần Nhân Tông</title>
		<link>http://trannhantong.net/2013/03/tho-tran-nhan-tong/</link>
		<comments>http://trannhantong.net/2013/03/tho-tran-nhan-tong/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 17 Mar 2013 14:03:04 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Những tác phẩm của Trần Nhân Tông]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://trannhantong.net/?p=1028</guid>
		<description><![CDATA[1 TỨC SỰ Xong múa Giá chi thử áo xuân, Hôm nay huống gặp tiết thanh minh. Đầy mâm bánh cuốn như hồng ngọc Phong tục từ xưa của Việt Nam. 2 &#160; TIỄN SỨ BẮC LÝ TRỌNG TÂN TIÊU PHƯƠNG MAI &#160; Thăm thẳm Linh Trì ấm tiệc đưa Người về khôn cách gió xuân ngừa. Nào hay sao sứ hai ngôi phúc, Sáng rọi trời Nam mây tối bưa. 3 TIỄN SỨ BẮC MA HỢP KIỀU NGUYÊN LÃNG [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div class="text">
<div><strong>1</strong></div>
<div><strong>TỨC SỰ</strong></div>
<div></div>
<div>Xong múa Giá chi thử áo xuân,</div>
<div>Hôm nay huống gặp tiết thanh minh.</div>
<div>Đầy mâm bánh cuốn như hồng ngọc</div>
<div>Phong tục từ xưa của Việt Nam.</div>
<div></div>
<div></div>
<div>
<p><strong>2</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
</div>
<div><strong>TIỄN SỨ BẮC LÝ TRỌNG TÂN</strong></div>
<div>
<p><strong>TIÊU PHƯƠNG MAI</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
</div>
<div></div>
<div>Thăm thẳm Linh Trì ấm tiệc đưa</div>
<div>Người về khôn cách gió xuân ngừa.</div>
<div>Nào hay sao sứ hai ngôi phúc,</div>
<div>Sáng rọi trời Nam mây tối bưa.</div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong>3</strong></div>
<div><strong>TIỄN SỨ BẮC MA HỢP</strong></div>
<div><strong>KIỀU NGUYÊN LÃNG</strong></div>
<div><strong> </strong></div>
<div>Trời nam, sao sứ rọi hai ngôi</div>
<div>Dẫn lối ba vòng đêm sáng soi</div>
<div>Bên ấy ơn sâu tình dễ cảm</div>
<div>Nơi đây tục bạc lễ thẹn tồi</div>
<div>Mù xông cờ tiết thân mừng khỏe</div>
<div>Roi vút gió xuân ngựa kết đôi</div>
<div>Trung thống vạc lời xin hãy nhớ</div>
<div>Nỗi lo đất nước khỏi nung sôi</div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong> <strong>4</strong></strong></div>
<div><strong>HỌA THƠ KIỀU NGUYÊN LÃNG</strong></div>
<div></div>
<div>Non nam hành lý nhẹ mây tưng</div>
<div>Xuân đến cành mai mới mấy bông</div>
<div>Khắp thấy cùng thương thiên tử đức</div>
<div>Sống không giúp thế trượng phu buồn</div>
<div>Ngựa xông sương tuyết đầu còn ngoái</div>
<div>Mắt ngắm non sông xe chút ngừng</div>
<div>Sông Nhị ngày mai mờ khói nước</div>
<div>Rượu đào tươi mát rửa lòng trong</div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong>5</strong></div>
<div><strong>HOA MAI SỚM</strong></div>
<div></div>
<div>Vàng điểm tua hoa năm cánh tròn</div>
<div>San hô chìm bóng vẩy phô tuôn</div>
<div>Ba đông cành trắng hoa khoe trước</div>
<div>Một nén hương xuân nhánh hãy còn</div>
<div>Cam lộ ngát thơm say bướm tỉnh</div>
<div>Dạ quang tựa nước khát chim buồn</div>
<div>Hằng nga nếu biết đây hoa đẹp</div>
<div>Quế lạnh cung Thiềm thôi ở luôn</div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong>6</strong></div>
<div></div>
<div>Ngại rét năm ngày cửa biếng ra</div>
<div>Gió xuân trước đã đến cây già</div>
<div>Bóng giăng mặt nước băng vừa vỡ</div>
<div>Hoa trĩu đầu cành ấm chửa pha</div>
<div>Xóm núi trăng chìm lời hát Việt</div>
<div>Ải quan mây đẫm tiếng tiêu Hồ</div>
<div>Một cành lạc tới giấc mơ bạn</div>
<div>Tỉnh dậy tặng người chẳng nỡ đưa</div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong>7</strong></div>
<div><strong>CẢNH XUÂN</strong></div>
<div></div>
<div>Chim hót nhởn nhơ, hoa liễu dày,</div>
<div>Bóng thềm nhà vẽ mây chiều bay</div>
<div>Chuyện đời khách đến thôi không hỏi</div>
<div>Cùng tựa lan can ngắm núi mây.</div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong>8</strong></div>
<div><strong>DỰ YẾN VỚI VĂN TÚC VƯƠNG</strong></div>
<div></div>
<div>Chân rùa bóc đỏ mọng</div>
<div>Yên ngựa nướng vàng thơm</div>
<div>Sơn tăng giữ giới sạch</div>
<div>Cùng ngồi chẳng cùng ăn</div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong>9</strong></div>
<div><strong>CHÙA THẦN QUANG TRÊN NÚI ĐẠI LÃM</strong></div>
<div></div>
<div>Bát ngát Thần quang gợi tịch u</div>
<div>Trời trăng ôm cởi đến ngao du</div>
<div>Lâu đài một tá bày tranh vẽ</div>
<div>Thế giới ba ngàn lọt mắt thơ</div>
<div>Lắm đỗi thói đời mây thương cẩu</div>
<div>Đâu hay tùng cỗi trắng đầu sư</div>
<div>Thắp hương lễ Phật trừ đôi việc</div>
<div>Hết thảy suy tư mặc bỏ lờ.</div>
<div></div>
<div><strong> </strong></div>
<div><strong>10</strong></div>
<div><strong>ĐỀ NHÀ THỦY TẠ CHÙA PHỔ MINH</strong></div>
<div></div>
<div>Xông hết nghìn hương thơm ngát nhà,</div>
<div>Mới dâng dòng nước mát đâu xa</div>
<div>Cửa chùa dưới bóng đa già khép</div>
<div>Đầu tiếng ve thu ý đậm đà</div>
<div><strong> </strong></div>
<div><strong> </strong></div>
<div><strong>11</strong></div>
<div><strong>NGẮM CẢNH CHIỀU THIÊN TRƯỜNG</strong></div>
<div></div>
<div>Thôn trước thôn sau tựa khói nhòa</div>
<div>Nửa không nửa có mé chiều sa</div>
<div>Mục đồng sáo vẳng trâu về hết,</div>
<div>Cò trắng từng đôi ruộng xuống sà.</div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong>12</strong></div>
<div><strong>TRÊN ĐƯỜNG TÂY CHINH</strong></div>
<div></div>
<div>Hoa sóng tung lên buồm gấm bay</div>
<div>Dưới mui đầu mệt chẳng buồn quay</div>
<div>Mây chiều Tam Giáp nhạn không đến</div>
<div>Trăng sáng Cửu Than rồng có đây</div>
<div>Lạnh lẽo đường đi cung mộng cũ</div>
<div>Ngổn ngang sầu vướng rượu ly đầy</div>
<div>Hán hoàng mang tiếng say chinh chiến</div>
<div>Vội vã nam nhi chi lắm vậy.</div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong>13</strong></div>
<div><strong>TRĂNG</strong></div>
<div></div>
<div>Đầy sách, giường song chếch bóng đèn</div>
<div>Sân thu sương bủa thoáng hơi đêm</div>
<div>Tiếng chày thức dậy đâu hay biết</div>
<div>Hoa mộc trên cành trăng mới lên</div>
<div></div>
<div><strong> </strong></div>
<div><strong>14</strong></div>
<div><strong>LÊN NÚI BẢO ĐÀI</strong></div>
<div><strong> </strong></div>
<div>Đất vắng đài thêm cổ</div>
<div>Ngày qua xuân chửa nồng.</div>
<div>Gần xa, mây núi cuốn,</div>
<div>Râm nắng, ngõ hoa lồng.</div>
<div>Muôn việc nước theo nước,</div>
<div>Trăm năm lòng bảo lòng</div>
<div>Tựa hiên nâng sáo ngọc,</div>
<div>Ngực áo, đầy trăng trong.</div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong>15</strong></div>
<div><strong>CÂY MAI</strong></div>
<div></div>
<div>Sắt đá gan lì khinh tuyết sớm</div>
<div>Khăn xiêm mộc mạc gió đông luồn</div>
<div>Trần gian kiệm ước Hán Văn Đế</div>
<div>Thiên hạ anh hùng Đường Thái Tông.</div>
<div></div>
</div>
<div class="text">
<div><strong>16</strong></div>
<div><strong>ĐÊM MƯỜI MỘT THÁNG HAI</strong></div>
<div><strong> </strong></div>
<div>Rượu chút sầu vơi, vị đậm đà,</div>
<div>Giường rồng chiếu trúc trải yên ra</div>
<div>Cả trời tựa nước, trăng ngày sáng,</div>
<div>Hoa phủ đầy song xuân mãi mơ</div>
<div></div>
<div><strong> </strong></div>
<div><strong>17</strong></div>
<div><strong>NIỀM OÁN HẬN CỦA NGƯỜI KHUÊ PHỤ</strong></div>
<div></div>
<div>Ngủ dậy vén rèm, hồng thấy rơi,</div>
<div>Hoàng ly không hót giận xuân rồi.</div>
<div>Lầu tây vô cớ vầng dương lặn</div>
<div>Bóng ngã về đông hoa lẫn chồi</div>
<div><strong> </strong></div>
<div><strong><span><br clear="all" /><br />
</span></strong></div>
<div><strong>18</strong></div>
<div><strong>CẢNH CHIỀU Ở CHÂU LẠNG</strong></div>
<div></div>
<div>Chùa cổ đìu hiu khuất khói mờ</div>
<div>Thuyền câu chiều quạnh tiếng chuông đưa</div>
<div>Nước quang non lặng vờn âu trắng</div>
<div>Gió lặng mây đùa cây đỏ thưa.</div>
<div></div>
<div><strong> </strong></div>
<div><strong>19</strong></div>
<div><strong>XUÂN MUỘN</strong></div>
<div></div>
<div>Tuổi trẻ sao từng hiểu sắc không</div>
<div>Cả xuân hoa nở ngất ngây lòng</div>
<div>Đến nay đành rõ mặt xuân ấy</div>
<div>Nệm cỏ giường thiền ngắm rụng hồng.</div>
<div><strong><span><br clear="all" /><br />
</span></strong></div>
<div></div>
<div><strong>20</strong></div>
<div><strong>CHIỀU THU Ở VŨ LÂM</strong></div>
<div><strong> </strong></div>
<div>Lòng khe vắt ngược bóng cầu hoa</div>
<div>Hắt sáng ngoài khe, vệt nắng tà</div>
<div>Vắng vẻ nghìn non, rơi lá đỏ</div>
<div>Như mơ mây đẫm tiếng chuông xa</div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong>21</strong></div>
<div><strong>NGÀY XUÂN THĂM CHIÊU LĂNG</strong></div>
<div>Hùm gấu nghiêm nghìn cửa.</div>
<div>Áo mũ bảy phẩm đầy.</div>
<div>Lính bạc đầu còn đó,</div>
<div>Nguyên Phong mãi kể say</div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong>22</strong></div>
<div><strong>BUỔI SỚM MÙA XUÂN</strong></div>
<div>Ngủ dậy, mở cánh cửa,</div>
<div>Xuân về đã chẳng hay!</div>
<div>Bươm bướm một đôi trắng</div>
<div>Phơi phới nhắm hoa bay</div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong>23</strong></div>
<div><strong>TRÊN HỒ ĐỘNG THIÊN</strong></div>
<div>Cảnh hồ Động thiên nọ,</div>
<div>Hoa cỏ kém vẻ xuân.</div>
<div>Thượng đế thương hiu quạnh</div>
<div>Chuông Thái thanh bỗng ngân.</div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong>24</strong></div>
<div><strong>PHỦ THIÊN TRƯỜNG</strong></div>
<div></div>
<div>Rậm lục thưa hồng thêm quạnh hiu</div>
<div>Mây quang mưa tạnh ngấn bùn tiêu</div>
<div>Nhà trai giảng đoạn sư về viện</div>
<div>Quán bến canh đầu cầu nguyệt treo</div>
<div>Ba chục cung tiên giường tối đặt</div>
<div>Tám nghìn bóng tháp triều xuân reo</div>
<div><span>Phố minh phong cảnh y như cũ </span></div>
<div><span>Phảng phất hình cha mộng thấy nhiều </span></div>
<div></div>
<div><strong><span><br clear="all" /><br />
</span></strong></div>
</div>
<div class="text">
<div><strong><span>25</span></strong></div>
<div><strong><span>BÀI MINH ĐỀ TRÚC NÔ</span></strong></div>
<div></div>
<div>Ruột rỗng, tuyết giải</div>
<div><span>Đốt cứng, sương phơi </span></div>
<div><span>Mượn ngươi làm tớ, </span></div>
<div><span>E trái tính trời. </span></div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong><span>26</span></strong></div>
<div><strong><span>MẠN HỨNG Ở SƠN PHÒNG</span></strong></div>
<div></div>
<div><span>Ai buộc mà đi giải thoát tìm? </span></div>
<div><span>Không phàm sao phải kiếm thần tiên </span></div>
<div><span>Vượn mòn, ngựa mỏi ta già phải. </span></div>
<div>Như cũ am mây một sập thiền</div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong>27</strong></div>
<div></div>
<div>Phải trái tâm theo hoa sớm rơi</div>
<div>Lợi danh lòng lạnh mưa đêm rồi</div>
<div>Hoa tàn, mưa tạnh non im ắng</div>
<div>Một tiếng chim kêu xuân hết thôi.</div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong>28</strong></div>
<div><strong>TẶNG SỨ BẮC LÝ TƯ DIỄN</strong></div>
<div></div>
<div>Ơn Hán tràn trề mưa móc tuôn</div>
<div>Chiếu son phượng ngậm khỏi mây hồng</div>
<div>Khí hòa góc đất đều lan tới</div>
<div>Bụi chiến sông trời rửasạch trơn</div>
<div>Thảy bảo thư vua mười lối viết</div>
<div>Còn hơn đàn Thuấn năm dây đờn</div>
<div>Đất trời thương hết không nam bắc</div>
<div>Sấm sét sao lolại phải bươn</div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong>29</strong></div>
<div><strong>CA NGỢI THƯỢNG SĨ TUỆ TRUNG</strong></div>
<div></div>
<div>Nhìn lên càng cao</div>
<div>Dùi càng bền cứng</div>
<div>Chợt ở phía sau</div>
<div>Thấy liền trước đứng</div>
<div>Cái đó gọi là</div>
<div>Thiền Thượng sĩ vững</div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong>30</strong></div>
<div><strong>ĐỀ CHÙA THÔN HƯƠNG CỔ CHÂU</strong></div>
<div></div>
<div>Số đời một màn kéo,</div>
<div>Tình người đôi mắt ngân.</div>
<div><span>Cung ma chật hẹp lắm, </span></div>
<div><span>Cõi Phật khôn xiết xuân.</span></div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong><span>31</span></strong></div>
<div><strong><span>KỆ THỊ TỊCH</span></strong></div>
<div></div>
<div><span>Hết thảy pháp không sinh </span></div>
<div><span>Hết thảy pháp không diệt </span></div>
<div><span>Nếu hay hiểu như vầy </span></div>
<div><span>Chư Phật thường trước mặt </span></div>
<div><span>Đến đi sao có đây </span></div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong><span>32</span></strong></div>
<div><strong><span>THÂN NHƯ</span></strong></div>
<div></div>
<div><span>Thân như hơi thở vào ra mũi </span></div>
<div><span>Thế tựa gió luồn mây núi xa </span></div>
<div><span>Đỗ quyên rền rĩ trăng ngày sáng </span></div>
<div><span>Đừng để tầm thường xuân luống qua</span></div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong><span>33</span></strong></div>
<div><strong><span>NGƯƠI NÊN NHỚ</span></strong></div>
<div></div>
<div><span>Cối kê việc cũ ngươi nên nhớ, </span></div>
<div><span>Hoan, Ái đang còn chục vạn quân </span></div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong><span>34</span></strong></div>
<div><strong><span>TỨC SỰ</span></strong></div>
<div></div>
<div><span>Xã tắc hai phen chồn ngựa đá, </span></div>
<div><span>Non sông nghìn thuở vững âu vàng. </span></div>
<div></div>
<div></div>
<div><strong><span>35</span></strong></div>
<div><strong><span>HỌA THƠ LÝ TƯ DIỄN</span></strong></div>
<div></div>
<div><span>Tự xét không tài thẹn được đất </span></div>
<div><span>Chỉ vì nhiều bệnh thiếu chầu trời</span></div>
<div></div>
<div style="text-align: center;">•••••</div>
<div></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://trannhantong.net/2013/03/tho-tran-nhan-tong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Bí ẩn bích họa triệu USD về Phật hoàng Trần Nhân Tông</title>
		<link>http://trannhantong.net/2013/03/bi-an-bich-hoa-trieu-usd-ve-phat-hoang-tran-nhan-tong/</link>
		<comments>http://trannhantong.net/2013/03/bi-an-bich-hoa-trieu-usd-ve-phat-hoang-tran-nhan-tong/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 17 Mar 2013 13:57:18 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tác phẩm nghệ thuật về Trần Nhân Tông]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://trannhantong.net/?p=1023</guid>
		<description><![CDATA[Gần 700 năm qua, ít ai biết một báu vật bích họa về vị vua Trần Nhân Tông lại âm thầm lưu giữ tại một bảo tàng nước ngoài. Đến khi bản sao của bức thư họa được bán đấu giá tại nước ngoài vào năm 2012 với giá kỷ lục gần hai triệu USD, người ta mới bàng hoàng. Hình ảnh trong bức tranh phiên bản. Tuyệt phẩm mô tả cuộc đời Phật hoàng Tư liệu trong cuốn sách [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div id="content">
<p>Gần 700 năm qua, ít ai biết một báu vật bích họa về vị vua Trần Nhân Tông lại âm thầm lưu giữ tại một bảo tàng nước ngoài. Đến khi bản sao của bức thư họa được bán đấu giá tại nước ngoài vào năm 2012 với giá kỷ lục gần hai triệu USD, người ta mới bàng hoàng.</p>
<table width="400" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><img src="http://trannhantong.net/wp-content/uploads/2013/03/images670307_H4.jpg" alt="Hình ảnh trong bức tranh phiên bản." /></td>
</tr>
<tr>
<td>Hình ảnh trong bức tranh phiên bản.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><strong>Tuyệt phẩm mô tả cuộc đời Phật hoàng</strong></p>
<p>Tư liệu trong cuốn sách cổ “Thạch cừ bảo cấp bí điện châu lâm tục biên”, cũng như những lời đề từ trên bức họa cho thấy bức tranh do họa sư đời Nguyên là Trần Giám Như (người Hàng Châu, Trung Quốc) sáng tác vào khoảng mùa xuân năm 1363. Tên gọi “Trúc lâm đại sĩ xuất sơn đồ” do Trần Đăng, người đầu tiên đề bút lên bức hoạ đặt ra.</p>
<p>Nhà nghiên cứu cổ vật, diễn giả Trần Đình Sơn, người tâm huyết góp công sức trong hành trình “giải mã” những bí ẩn liên quan đến bức tranh cho biết bức họa có chiều dài tổng cộng gần 10m (gồm 3m tranh vẽ, 7m lời đề từ), rộng 0,3m. “Tranh vẽ cảnh đức vua Trần Nhân Tông nhường ngôi, mô tả cảnh đoàn người đến đón Phật hoàng xuống núi, di chuyển bằng võng khiêng. Tranh gốc được vẽ bằng mực trên chất liệu giấy hoa tiên, tính đến nay đã trên 650 năm tuổi”, ông Sơn cho biết.</p>
<p>Tại một cuộc toạ đàm bàn về thân thế, sự nghiệp vua Trần Nhân Tông diễn ra tại Huế vào cuối tháng 2/2013 vừa qua, khi công bố bản chụp hình bức họa này, có nhiều ý kiến khác nhau về nội dung bức thư hoạ liên quan đến hai chữ “xuất sơn”.</p>
<p>Nhiều ý kiến cho rằng tranh tả lại cảnh vua Trần Nhân Tông rời núi Vũ Lâm (Ninh Bình), lên núi Yên Tử tu hành. Trong khi đó, Đại đức, Tiến sĩ Thích Không Nhiên, chùa Hải Đức (Tp Huế) nhận định, bức họa tả cảnh lúc Phật hoàng sau khi đã tu hành đắc đạo nên hạ sơn đi khắp nơi truyền đạo.</p>
<p>Nhận xét về bức họa, nhà tu hành Thích Không Nhiên cho biết tranh đã phần nào mô tả những điểm nổi bật trong cuộc đời vua Trần Nhân Tông. Cụ thể, đó là vị vua nhà Trần sau khi giác ngộ Phật pháp đã từ bỏ ngai vàng, lên núi tu hành, lập ra thiền phái Trúc lâm ở Việt Nam. Nói cách khác, vua Trần Nhân Tông là người có công trong việc sáng lập, phát triển Phật giáo Việt Nam. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cùng có chung nhận định rằng bức thư hoạ không những chứa đựng giá trị văn hoá nghệ thuật mà còn mang giá trị lịch sử sâu sắc.</p>
<p>Bức tranh cung cấp cho người xem cái nhìn sâu rộng về trang phục, phần nào diện mạo đời sống văn hoá đất nước Đại Việt vào thế kỉ 13 – 14. “Bức tranh không chỉ khắc hoạ một sự kiện lịch sử là đại sĩ Trúc lâm xuống núi sau khi giác ngộ, mà còn tiết lộ chân dung của Thượng hoàng Trần Nhân Tông và cả con của ngài, Hoàng đế Trần Anh Tông, những chân dung vốn rất hiếm hoi trong di sản nghệ thuật còn bảo tồn được ở Việt Nam”, Tiến sĩ Nguyễn Nam (công tác tại Viện Harvard Yenching, Mỹ) nhận xét.</p>
<p><strong>Số phận “long đong” của bích họa</strong></p>
<p>Bức thư họa gốc đang được lưu giữ tại bảo tàng Liêu Ninh (Trung Quốc). Trên thế giới cũng chỉ có duy nhất một bản sao của bức tranh được công bố. Đó chính là bức họa bán đấu giá tại Bắc Kinh (Trung Quốc) hồi tháng 4/2012, đạt giá “khủng” 1,8 triệu USD (khoảng 36 tỷ đồng).</p>
<p>Bức tranh sao chép có kích thước 961 x 28cm, vẽ đen trắng trên chất liệu giấy xuyến theo loại hình tranh thuỷ mặc. Tranh vẽ tất cả 82 nhân vật, gồm đoàn người xuống núi và đoàn người đến đón. Giống với tranh nguyên bản, trung tâm bức tranh sao chép là Phật hoàng Trần Nhân Tông với những đặc điểm đặc trưng: Mày dài, tai to, tay cầm tràng hạt.</p>
<p>Ông Sơn cho biết, bức thư hoạ cổ đã có hành trình lưu lạc khá long đong. Tranh do Trần Giám Như sáng tác, nhưng một người họ Trần khác sống ở Trung Quốc là Trần Đăng mới là chủ sở hữu đầu tiên.</p>
<p>Tuy nhiên, bài dẫn trên bức thư hoạ lại cho thấy bức tranh thuộc về một người tên Trần Quang Chỉ. Năm 1420, Trần Quang Chỉ đã công bố bức tranh ra công chúng, đồng thời mời các danh sĩ nổi tiếng đến đề từ, chứng giám. Hiện chưa thể chứng minh được giữa Trần Đăng và Trần Quang Chỉ có quan hệ như thế nào, tại sao tác phẩm của Trần Giám Như lại về tay hai người này?.</p>
<p>Vào thời gian giữa triều nhà Minh, bức thư họa không rõ vì lí do gì rơi vào tay một nhà sưu tầm cổ vật ở tỉnh Chiết Giang. Sau khi nhà Thanh truất phế nhà Minh, bức tranh lần nữa “phiêu bạt” khắp nơi rồi vô tình xuất hiện trong kho cổ vật nhà Thanh.</p>
<p>Đến đời vua Phổ Nghi thì cách mạng Tân Hợi nổ ra, buộc ông phải thoái vị tìm đường chạy trốn ra nước ngoài. Cuộc chạy trốn thất bại, bị bắt giữ, chính quyền thu giữ toàn bộ hành trang, trong đó có bức tranh cổ vẽ về vị sư nước Đại Việt.</p>
<p>Từ đó đến nay bức thư họa được bảo tồn, lưu giữ tại bảo tàng Liêu Ninh, chưa từng công bố bản gốc ra công chúng.</p>
<p>Một tài liệu khác lại cho rằng bức tranh là báu vật trong kho tàng của Hạng Nguyên Biện, một giám thưởng gia nổi tiếng vào đời Minh sang đời Thanh, được giữ trong Cố Cung như một quốc bảo.</p>
<p>Năm 1922, Phổ Nghi  tuy đã thoái vị nhưng vẫn ở trong Tử cấm thành, bí mật “tuồn” ra ngoài hơn 1.300 bảo vật, trong đó có cả bức thư họa này.</p>
<p>Lưu lạc đến năm 1949, số báu vật nói trên mới được đưa vào Bảo tàng Đông Bắc (nay là Bảo tàng Liêu Ninh) lưu giữ, công chúng không mấy dịp được chiêm ngưỡng nữa. Bức tranh cũng vì thế mà biệt tích.</p>
<p>Người Việt Nam có công phát hiện ra bức thư hoạ cổ trên chính là Tiến sĩ người Việt đang công tác tại Mỹ, ông Nguyễn Nam. Mười bốn năm trước đây, năm 1999, ông Nam trong một lần tình cờ đọc được một tài liệu hội hoạ của người Hoa, thấy nhắc đến bức tranh cổ vẽ đức vua Trần Nhân Tông.</p>
<p>Được sự cổ vũ của nhóm nghiên cứu Phật giáo “Suối nguồn” ở Thành phố Hồ Chí Minh, ông Nam tiếp tục truy tìm tung tích bức thư hoạ, biết được thông tin bản gốc bức tranh hiện nằm tại bảo tàng Liêu Ninh, phiên bản được bán đấu giá tại Bắc Kinh vào năm 2012.</p>
<p><strong>Tác giả bức tranh là người Việt?</strong></p>
<p>Có một bí ẩn liên quan đến bức tranh mà đến nay giới nghiên cứu chưa thể lý giải. Đó là mối quan hệ giữa “bộ 3” tác giả &#8211; người sở hữu đầu tiên &#8211; người đề từ đầu tiên trên bức thư họa đều mang họ Trần. Từ đây, một câu hỏi đặt ra: Phải chăng những người này là con cháu hoàng tộc nhà Trần chạy trốn sang Trung Quốc, sau khi bị nhà Hồ đánh chiếm ngai vàng?.</p>
<table width="404" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><img src="http://trannhantong.net/wp-content/uploads/2013/03/images670308_H7.jpg" alt="Còn rất nhiều bí ẩn xung quanh bức họa" /></td>
</tr>
<tr>
<td>Còn rất nhiều bí ẩn xung quanh bức họa</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Theo ý kiến ông Sơn, tài liệu cổ Trung Hoa cho rằng Trần Giám Như là danh hoạ thời nhà Nguyên, tuy nhiên tài liệu này lại viết ông “cư Hàng Châu” chứ không phải “Hàng Châu nhân”.</p>
<p>Do vậy không loại trừ Trần Giám Như là con cháu nhà Trần ở Việt Nam sống lưu vong tại Hàng Châu, tương tự như con cháu nhà Lý sinh sống ở Hàn Quốc.</p>
<p>“Chúng ta cần tiếp tục tìm hiểu lai lịch của 3 người họ Trần này và làm rõ mối quan hệ giữa họ. Có như thế mới làm rõ thắc mắc những người này thuộc con cháu hoàng tộc nhà Trần ở Việt Nam. Nếu giả thiết trên là sự thật, khi đó chúng ta sẽ trịnh trọng tuyên bố rằng tuyệt bích “Trúc lâm đại sĩ xuất sơn đồ” là do danh hoạ người Việt sáng tác”, ông Sơn nói.</p>
<p>Đồng quan điểm, Đại đức, Tiến sĩ Thích Không Nhiên góp ý, giới nghiên cứu văn hoá cần chú trọng tìm hiểu mối liên hệ thân thế giữa 3 người họ Trần gắn bó mật thiết với bức thư hoạ cổ, từ đó mới có thể chứng minh tranh có phải do người Việt vẽ hay không.</p>
<p>Ông đưa ra lý lẽ khá sắc bén: “Một danh họa nước Nguyên lại đi vẽ chân dung vị vua trị vì đất nước vừa đánh bại hai cuộc xâm lăng của vó ngựa Nguyên &#8211; Mông (vào năm 1285 và 1288) quả là điều vô lý, khó lý giải”.</p>
<p>Còn trong trường hợp bức tranh là do người nước ngoài sáng tác thì sao?.</p>
<p>Trả lời câu hỏi này, Đại đức Thích Không Nhiên mỉm cười: “Nếu tác giả bức thư họa là người nước ngoài, chúng ta càng tự hào hơn về vị vua anh minh Trần Nhân Tông. Nhà vua, Phật hoàng của chúng ta vĩ đại tới mức ngay danh họa nước ngoài cũng phải ngưỡng mộ, vẽ tranh để đời”.</p>
<p><strong>Quảng Thiên – Văn Mai</strong></p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://trannhantong.net/2013/03/bi-an-bich-hoa-trieu-usd-ve-phat-hoang-tran-nhan-tong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ảnh đẹp: Đến một lúc</title>
		<link>http://trannhantong.net/2013/03/iframe-src-http-www-slideshare-net-slideshow-embed-code-16908213-width-427-height-356-frameborder-0-marginwidth-0-marginheight-0-scrolling-no-style-border-1px-solid-ccc-border-width-1px-1px-0-margin-b/</link>
		<comments>http://trannhantong.net/2013/03/iframe-src-http-www-slideshare-net-slideshow-embed-code-16908213-width-427-height-356-frameborder-0-marginwidth-0-marginheight-0-scrolling-no-style-border-1px-solid-ccc-border-width-1px-1px-0-margin-b/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 04 Mar 2013 03:33:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Ảnh đẹp]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://trannhantong.net/?p=1017</guid>
		<description><![CDATA[Đến một lúc from trannhantong]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><iframe style="border: 1px solid #CCC; border-width: 1px 1px 0; margin-bottom: 5px;" src="http://www.slideshare.net/slideshow/embed_code/16908213" frameborder="0" marginwidth="0" marginheight="0" scrolling="no" width="427" height="356"></iframe></p>
<div style="margin-bottom: 5px;"><strong> <a title="Đến một lúc" href="http://www.slideshare.net/trannhantong/den-mot-luc-01" target="_blank">Đến một lúc</a> </strong> from <strong><a href="http://www.slideshare.net/trannhantong" target="_blank">trannhantong</a></strong></div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://trannhantong.net/2013/03/iframe-src-http-www-slideshare-net-slideshow-embed-code-16908213-width-427-height-356-frameborder-0-marginwidth-0-marginheight-0-scrolling-no-style-border-1px-solid-ccc-border-width-1px-1px-0-margin-b/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
