Trần Nhân Tông, người lãnh đạo đích thực trong hai cuộc chiến tranh chống quân Nguyên

Tháng Mười 7, 2012 6:44 sáng 0 thảo luận

Chia sẻ bài viết này

Tác giả:

Trần Nhân Tông làm vua Đại Việt trong giai đoạn đất nước đánh tan quân xâm lược nhà Nguyên, đội quân khét tiếng đương thời đã chinh phục nhiều quốc gia hùng mạnh trên thế giới. Đánh thắng xâm lược nhà Nguyên là sự nghiệp chung của toàn dân, là chiến công của những người lính dưới sự chỉ huy của các tường lĩnh nổi tiếng mà tiêu biểu là vị tổng chỉ huy- Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn. Đức vua Trần Nhân Tông anh minh, đã trở thành người lãnh đạo đích thực về chính trị và tinh thần của đất nước ngay từ trong chiến tranh chống Nguyên lần thứ hai và lần thức ba (sau đây gọi tắt là hai cuộc chiến tranh).

Tuy nhiên, vẫn có một số ý kiến phân vân khi nhìn nhận vị trí đích thực của Trần Nhân Tông trong hai cuộc chiến tranh. Vì suốt   thời gian này, vẫn có sự hiện diện của Trần Thánh Tông trên cương vị thượng hoàng (Trần Thánh Tông mất năm 1290). Vậy ai là người thực sự có vị trí lãnh đạo quyết định? Nhân dân đã phong thánh tôn thờ Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, vị danh tướng kiệt hiệt tầm cỡ thế giới, vậy phải chăng Đức Vua chỉ có thể có một vai trò thứ yếu trong  thắng lợi của chiến tranh? Đó chính là những vấn đề nên có câu trả lời rõ ràng.

Trước hết xin trao đổi một số ý kiến về câu hỏi thứ hai. Các vua đầu đời Trần, trong đó có cả Trần Thái Tông là những người đã phát hiện phẩm chất và tài năng vĩ đại của Trần Quốc Tuấn, hoàn toàn tin tưởng và ủy thác cho Ông toàn quyền  thống lĩnh quân đội khi đất nước bước vào chiến  tranh,  trong tình huống khó khăn, hiểm nghèo nhất, khi mà những ngay trong những người ruột thịt gần gũi nhất của vua cũng có kẻ ngã lòng. Phải có bản lĩnh dùng người tuyệt vời như thế nào họ mới có thể làm một việc mà có lẽ vua chúa cổ kim đông tây, kể cả những người đứng đầu hiện đại, chưa ai dám làm là đặt toàn bộ binh quyền của đất nước vào tay vị tướng có cha là người đã từng nổi loạn chống triều đình, người cha đó trước khi chết vẫn không nguôi uất hận trong lời  trăng trối lại cho con. Họ đã trao binh quyền cho Trần Quốc Tuấn, trong khi triều đình còn có không ít danh tướng khác không kém danh tiếng, lại thuộc dòng chính của vua và đang giữ vai trò trụ cột trong triều như Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải và những người khác. Chẳng những thế, còn khéo sắp đặt, sao cho tất cả những anh tài đương thời đồng tâm hiệp lực vì sự nghiệp cứu nước. Mối quan hệ giữa các vua Trần và Trần Hưng Đạo là quan hệ vua sáng-tôi hiền, các vua Trần đã đặt Trần Quốc Tuấn đúng vào vị trí lịch sử, tạo điều kiện để Ông phát huy hết tài năng, lập  công tích lớn lao, trở thành vị thánh của nhân dân. Trong suốt hai cuộc chiến tranh, kể cả những lúc cam go nhất, Trần Nhân Tông không phải chỉ đơn thuần   tuân thủ sự sắp xếp đội ngũ tướng lĩnh sẵn có, mà là người chủ động sử dung và phát huy cao độ đội ngũ đó,  từ vị tướng tổng chỉ huy cho đến người lính chiến bình thường.

Đối với câu hỏi thứ nhất, sử cũ  không ghi cụ thể, nhưng  lại có những đoạn viết dễ gây hiểu lầm. Trải mấy trăm năm cũng đã hình thành những định kiến khiến cho người đời sau có tâm lý ngại có điều  không phải với tiền nhân khi  phân định rạch ròi mối quan hệ và công tích của vua cha (Trần Thánh Tông) và vua con (Trần Nhân Tôn).

Trong một bài viết trước, chúng tôi đã minh chứng rằng e ngại như vậy là không có căn cứ.

Trước khi bàn về vấn đề này, cần điểm lại một số ý kiến xung quanh việc nhận diện  “thể chế” thượng hoàng đời Trần nói chung.

Căn cứ sử liệu quan trọng, sớm nhất, do đó thường được dựa vào trước hết là Đại Việt Sử ký Toàn thư (ĐVSKTT). Bộ sử này do Ngô Sĩ Liên và một số người khác biên soạn vào thời điểm hai trăm năm sau các sự kiện nói trên. Trong hai trăm năm đó, đã diễn ra bao nhiêu biến động và đảo lộn: Triều Trần đã chấm dứt sau những biến loạn, triều Hồ ngắn ngủi kế tiếp, đất nước trải qua mười mấy năm tàn hại dưới ách đô hộ, đồng hóa và hủy diệt văn hóa thâm độc của quân xâm lược Minh Thành Tổ, Lê Lợi lãnh đạo thắng lợi cuộc chiến tranh giành độc lập, khai sáng Triều Hậu Lê. Ngô Sĩ Liên làm ĐVSKTT dưới triều Lê Thánh Tông, một triều đại có có khuynh hướng trọng Nho rõ rệt. có dựa vào bộ Đại Việt Sử ký (ĐVSK) của Lê Văn Hưu, còn Lê Văn Hưu soạn xong ĐVSK và “dâng vua” sách này vào năm 1272, dưới thời Trần Thánh Tông, khi hai cuộc chiến tranh chưa xẩy ra và thái tử Trần Khâm mà sau này sẽ là Trần Nhân Tông mới 14 tuổi. Nói cách khác, cả hai nhà  viết sử nổi tiếng này đều không phải là chứng nhân và đều không ở trong điều kiện tốt nhất để ghi lại đầy đủ sự thật về mối  quan hệ cụ thể giữa Thượng hoàng Trần Thánh Tông và Đức vua Trần Nhân Tông trong hai cuộc chiến tranh. Vì vậy, khi đọc những điều các vị đó ghi lại không thể không giữ khoảng cách nhất định để suy xét.

Ngô Sĩ Liên viết về chế độ thượng hoàng đời Trần như sau: “Thực ra chỉ truyền ngôi để yên việc sau phòng khi thảng thốt mà thôi, chứ mọi việc đều do thượng hoàng quyết định cả. Vua nối ngôi không khác gì hoàng thái tử”[1].

Trong đoạn viết trên sử gia vừa lược thuật ý tứ của Trần Thái Tông khi nhường ngôi cho con để làm thượng hoàng, vừa nhận định khái quát về “thể chế” thượng hoàng triều Trần. Cần thừa nhận rằng nhận định đó đúng với thực tế đã diễn ra đối với  một số đời vua Trần, nhất là khi có những ông vua “trẻ con” lên ngôi[2], nhưng chắc chắn không đúng đối với tất cả các đời vua Trần.  Vì nếu như vậy thì hóa ra các vị vua đầu đời Trần chỉ ở ngôi làm vì, một điều rõ ràng trái với thực tế và không có lý[3] . Có lẽ xuất phát từ một nhận định chung như vậy, nên khi thuật lại nhiều sự kiện liên quan đến hoạt động của triều đình trong hai cuộc chiến tranh, ĐVSKTT thường nói về sự hiện diện của “hai vua”(Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông), gây ấn tượng phải chăng  Trần Nhân Tông chỉ có vai trò của một ông vua trị vì dưới  cái bóng của thượng hoàng.

Một số nhà viết sử và nghiên cứu sau này ít nhiều vẫn chịu ảnh hưởng của cách nhìn như vậy.  Cuốn Đại cương lịch sử Việt Nam của nhóm tác giả còn khẳng định rằng chế độ thượng hoàng đời Trần là thiết chế nhằm “để đảm bào vững chắc vị trí và khả năng nắm chính quyền trong tay vua, tránh những vụ  tranh chấp trong nội bộ hoàng tộc…Quyền hành của thái thượng hoàng rất lớn, không chỉ có quyền chỉ định người con kế vị mà khi cần có thể truất bỏ ngôi vua”[4] . Một số tài liệu, thậm chí còn cho rằng hành cung Tức Mặc, nơi các thượng hoàng lui về, cũng có một bộ máy được tổ chức và hoạt động như triều đình ở Thăng Long, dường như là có hai triều đình cùng tồn tại, mà nếu thế thì theo Ngô Sĩ Liên quyền quyết định nằm ở Tức Mặc[5].

Nhà sử học Trần Trọng Kim có cái nhìn tinh tường hơn  khi ông viết trong Việt Nam Sử lược: “ Năm 1258 Thái Tông nhường ngôi cho Trần Hoảng, để dạy bảo mọi việc về cách trị nước và đề phòng  sau này anh em không tranh nhau. Triều đình tôn Thái Tông làm Thái thượng hoàng để cùng coi việc nước”[6] . Viết như vậy, Trần Trọng Kim vừa diễn đạt ý định của Trần Thái Tông, vừa mô tả mối quan hệ cụ thể giữa thượng hoàng Thái Tông và vua Thánh Tông, mà không đề cập chung cho các đời vua khác. Đáng chú ý là Trần Trọng Kim cũng cho rằng Trần Thái Tông lên làm thượng hoàng không phải từ  chủ kiến có trước của Ông mà do triều đình tôn lên.

Trong những nghiên cứu gần đây của một số tác giả, đã có những ý kiến nhận định rõ ràng và mạnh dạn hơn vai trò người đứng đầu quyết định của Trần Nhân Tông trong hai cuộc chiến tranh, ví dụ trong một số tham luận đọc trong hội thảo ngày 16-2- 2012 ở Hà Nội và hội thảo ngày 21-9-2012 ở Boston[7]. Nhưng trong những trao đổi riêng tư thì vẫn có những ý kiến dè dặt hơn.

Trước hết, phải nói rằng chế độ thượng hoàng không phải là cái riêng có của đời  Trần, trong đời Trần cũng không phải bắt đầu từ  Trần Thái Tông. Trước đó, Lý Huệ Tôn đã giao ngôi vua cho người con gái bé bỏng tám tuổi đầu, để làm thượng hoàng, tạo cơ hội cho vương triều Trần ra đời. Cha của Trần Thái Tôn là Trần Thừa cũng đã làm thượng hoàng, và ông thượng hoàng này cũng từng xuống chiếu[8]. Hồ Quý Ly, ngay sau khi chấm dứt vương triều Trần đã chuyển ngay sang làm thượng hoàng.

Từ nhiều sự việc có thể suy luận rằng việc Trần Thái Tông quyết định nhường ngôi cho con có nhiều nguyên do như: Muốn tránh cho đời sau, trước hết là đời con lặp lại tình huống làm vua éo le của mình với nhiều điều không như ý;  suốt đời Ông không ham ngôi vua; đến cuối đời Ông muốn giành tâm trí và thời gian đi sâu vào Phật giáo.

Trần Cảnh lên ngôi vua khi tám tuổi, theo mưu đồ sắp đặt của các bậc cha chú, nhưng chính danh là do vợ nhường ngôi. Các bậc trưởng lão trong họ- nay trở thành trong triều- bảo vệ đến cùng tính chính danh mong manh đó. Họ giữ bằng được ngôi vua cho Trần Cảnh, nhưng lại ráo riết ép Trần Thái Tôn thực hiện những điều họ toan tính và quyết định. Trần Thủ Độ là con người bản lĩnh nhất, mưu lược nhất, công lao nhất và do đó nắm thực quyền lớn nhất, cũng là con người ngay thẳng, trung thực, khôn ngoan, nên dù đã nhẫn tâm ép vua làm nhiều việc trái đạo lý vì quyền lợi của dòng họ, nhưng lại không mảy may có ý định cướp ngôi hoặc lạm quyền (Ông sống rất lâu, mãi đến khi Trần Cảnh trở thành thượng hoàng mới mất-1264).

Trần Thái Tông nhận thức được tầm quan trọng của vai trò phải đóng, đã phải ép mình làm cả một số việc trái với đạo lý, lương tâm và bản tính, đã có những hành động phản đối (bỏ kinh thành lên Yên Tử, quyết che chở cho Trần Liễu, bất chấp thái độ gay gắt của Trần Thủ Độ[9]…). Lên làm thượng hoàng, chắc chắn Ông đã có nhiều điều dạy bảo và giúp đỡ vua con là Trần Thánh Tông, nhất là trong giai đoạn đầu và trong những lúc cam go. Nhưng cũng chắc chắn rằng, Ông không kéo dài tình thế “cùng coi việc nước” khi vua con đã đủ trưởng thành.

Có thể tin chắc rằng mối quan hệ thượng hoàng- vua không hề  được quy định chính thức và thể chế hóa. Có lẽ nó được áp dụng một cách linh động, tùy thuộc vào sự trưởng thành của vua con, vào tương quan tài đức giữa hai vua, vào tính chất của vấn đề phải giải quyết, vào tính tối ưu trong hình thức quan hệ giao tiếp đối nội, đối ngoại và trong hoàng tộc. Tất cả đều thấm nhuẩn một tình nghĩa cha con rất sâu đậm, đặt trong một không gian vua  con luôn luôn đề cao và tôn trọng vị thế vua cha.

Trong thời gian Trần Thánh Tông làm vua, đất nước khá yên ổn, cuộc chiến tranh chống Nguyên lần thứ nhất đã qua, hai cuộc chiến tranh tiếp theo chưa tới. Là ông vua nhân từ, trung hậu, nhưng không có tư tưởng và hoài bão gì lớn, đúng như khẩu khí của Ông: “Thiên hạ là của ông cha để lại, nên để cho anh em cùng hưởng phú quý chung”. Lên làm thượng hoàng ông có thể là chỗ dựa quan trọng về tinh thần cho con là Trần Nhân Tông, nhất là trong các việc củng cố mối quan hệ gắn bó trong tôn thất và đoàn kết toàn dân, nhưng Ông không phải là người lãnh đạo quyết định trong hai cuộc chiến tranh.

Người lãnh đạo đích thực, có tiếng nói quyết định trong hai cuộc chiến tranh là con Ông, Đức Vua Trần Nhân Tông, văn võ kiêm toàn, đã ở tuổi trưởng thành, có đầy đủ điều kiện để thực sự gánh vác sứ mệnh người đứng đầu đất nước và thể chế[10].

Đó là người đã tiếp nối và phát huy ý chí từ các đời vua trước trong việc cố kết dòng họ, đoàn kết toàn dân, sắp xếp tướng lĩnh, bố trí thế trận, thao dượt quân sĩ,  sẵn sáng đối phó với chiến tranh.

Đó là người trong thế giặc như lửa cháy, đã tự mình đi thuyền nhỏ đến bàn với Trần Hưng Đạo về vấn đề tiếp tục cuộc chiến. Không phải là người lãnh đạo cao nhất đích thực thì Ông không thể đưa ra câu hỏi này: “Thế giặc to như vậy mà chống với nó thì dân sự tàn hại, hay là trẫm hãy chịu hàng đi để cứu muôn dân?”[11]

Đó là người, trong thế nước ngàn cân treo sợi tóc, giặc đánh từ mọi phía, quan quân thua hết nơi này đến nơi khác, đã cất lên tiếng nói dõng dạc, lý lẽ động viên Quốc công Tiết chế, người đứng đầu quân đội, xốc lại tinh thần cho triều đình, và cũng là lời tự nhủ:

Cối kê cựu sự quân tu ký

Hoan Ngãi do tồn thập vạn binh.

Đó là người đã có những quyết định sáng suốt để xử lý các vấn đề sau chiến tranh, với kẻ địch bại trận, với nhân dân, với những người lập chiến công, với những kẻ lầm đường lạc lối.

Đó là người đã tổng kết hai cuộc chiến tranh trong hai câu thơ:

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã

Sơn hà thiên cổ điện kim âu

Hào sảng, ung dung, tự tin mà không hề nhắc đến vai trò cá nhân; thắng lợi nhưng không say sưa, mà điềm tĩnh, sẵn sàng đối phó với những thách thức mới.

Làm những việc đó, Trần Nhân Tông là người lãnh đạo đích thực, là linh hồn của cuộc chiến. Nhưng là ông vua tâm sáng, thấu hiểu lẽ đời, xa lạ với việc đề cao cá nhân mình, Ông là người rất tôn trọng Vua Cha và các bậc cha chú khác, không có một lời nói, một hành vi nào, cố ý hoặc vô tình làm lu mờ hình ảnh và công lao của họ. Trong Hội nghị Diên Hồng, trong việc thưởng phạt sau chiến tranh, vai trò chủ trì được giành cho thượng hoàng. Thật là cách làm hay, đẹp, hiệu quả và rất văn hóa. Có thể nói Ông đã làm một ông vua ở tầm cao văn hóa lãnh đạo mà trong đó có những yếu tố vẫn đầy đủ tính hiện đại đối với cả thế hệ chúng ta.

Ở đây cần trao đổi thêm về việc phong thưởng cho  Đỗ Hành.

ĐVSKTT chép rằng “Đỗ Hành chỉ được phong quan nội hầu vì khi bắt được Ô Mã Nhi không dâng lên vua mà lại dâng lên thượng hoàng”[12]. Một số người tin hoàn toàn vào điều này, thậm chí dẫn ra như một bằng chứng về vai trò đứng đầu đích thực của Trần Nhân Tông.

Sự việc Đỗ Hành có thể có thật, nhưng lý do ĐVSKTT đưa ra thì khó có thể thừa nhận là thỏa đáng.

Không thể tin rằng một ông vua như Trần Nhân Tông lại có thể  máy móc làm một việc sơ xuất, có tính chất khách quan là công khai hạ thấp vị trí của vua cha như vậy. Nó mâu thuẫn với tính cách của Ông, với hàng loạt việc làm khác của Ông và triều đình. Nó cũng không phải là việc làm bắt buộc phải gò theo luật lệ định sẵn, vì như đã phân tích trên, chắc chắn không có luật lệ nào như vậy. Triều Trần, nhất là thời kỳ đầu, rất nổi tiếng với những việc làm và quyết định táo bạo, “đời thường”, không bị gò vào khuôn khổ cứng nhắc nào.

Không có tư liệu để khẳng định, nhưng có thể suy đoán rằng, phải có một nguyên nào đó đáng để triều đình ra một quyết định như vậy và công bố điều đó. Có lẽ đó là nguyên nhân đối ngoại với triều Nguyên.

Đời Trần, Đại Việt là nước độc lập, nhưng vẫn duy trì một hình thức quan hệ mềm dẻo đối với triều đình phương bắc. Vua Đại Việt về hình thức vẫn chịu sắc phong của họ khi lên ngôi. Đó là dịp để họ để yêu sách, nhiễu sự, gây phiền hà để thị uy, để khẳng định vị thế “con trời”, kể cả việc bắt vua mới sang chầu. Các vua Trần đã nhiều lần từ chối các yêu sách đó với nhiều lý do, và triều Nguyên để giữ thể diện cũng đã đối phó lại bằng những hành động khá ngang ngược. Cả khi đã thảm bại liền trong ba cuộc chiến, triều Nguyên cũng không hổ thẹn khi hết lần này đến lần khác yêu cầu người chiến thắng sang  chầu  để nhận sắc phong. Chính trong hoàn cảnh đó, bằng việc tạo ra một sự kiện có gắn với tên tù binh Ô mã nhi, danh tướng bậc nhất cùng gốc Mông với Nguyên chúa, nhà Trần khẳng định với triều Nguyên tư cách độc lập của mình, thông qua quyền tự chủ quyết định ngôi vua. Ngôi vua đó có hiệu lực đầy đủ, bất chấp việc Nguyên có sắc phong hay không.

Phải chăng một số nhầm lẫn về phả hệ đời Trần và việc quá đề cao vai trò của thượng hoàng cũng ít nhiều có liên quan đến việc sắc phong này, thông qua việc tham khảo sách sử Trung Quốc. Khi Đại Việt thực hiện chế độ thượng hoàng thì có những đời vua Đại Việt không có sắc phong của triều đình phương bắc. Các nhà chép sử của họ khi ghi chép mối quan hệ với Đại Việt cứ phải theo đúng những gì  được vua họ sắc phong, không dám “cập nhật” thay đổi đã diễn ra, khi  vua Đại Việt đã nhường ngôi cho con, lên làm thượng hoàng. Cả khi  ông vua con đã đảm đương đầy đủ trách nhiệm làm vua, nhưng trong thư từ giao thiệp với phương bắc, cả vua cha lẫn vua con không tiếc gì những lời lẽ nhún nhường, không để cho họ có cớ sinh sự.

 



[1] Đại Việt Sử ký toàn thư , tr.286. NXB Thời Đại, 2011

[2] Minh Tông 29 tuổi làm thượng hoàng, con là Hiến Tông lên làm vua mói có 10 tuổi; Hiến Tông chết, Dụ Tông lên làm vua mới lên 5 tuổi…. Vì sao lại như vậy là điều cần lý giải, nhưng chắc chắn đó không nằm trong ý tưởng của những vua Trần  đầu tiên khi theo đuổi chế độ thượng hoàng.

[3] Theo niên biểu do chính ĐVSKTT ghi lại về  thời gian lên ngôi, nhường ngôi làm thượng hoàng thì Trần Thánh Tông chỉ làm vua “độc lâp” (không có thượng hoàng) 1 năm (trong 20 năm làm vua), Trần Nhân Tông 2 hoặc 3 năm (trong 14 năm làm vua), Trần Anh Tông 6 năm (trong 21 năm làm vua).

 

[4] Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm,. Lê Mậu Hãn: Đại Cương Lịch sử Việt Nam toàn tập, tr.174    NXB Giáo dục 2011

[5] Không biết những ý kiến như vậy dựa vào căn cứ cụ thể nào, nhưng có thể tin rằng, ở Tức Mặc chỉ có thể có một tổ chức phục vụ cho sinh hoạt của thượng hoàng, chứ không thể có một triều đình thứ hai. Chắc chắn các vị vua anh minh đầu Triều Trần không bao giờ phạm một sai lầm ngớ ngẩn như vậy về tổ chức điều hành đất nước..

[6] Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược, tr.123., NXB Văn Học 2011

[7] Xem:  Trần Ngọc Vương: Trần Nhân Tông- nhiều trong một

Trần Thị Băng Thanh: Trần Nhân Tông, sự nghiệp đời và đạo.

Những bài viết trên đều có đăng lại trên Tran Nhan Tong Net

Đọc thêm Trần Ngọc Vương: Trần Nhân Tông trên cương vị một nhà cầm quyền, VietNamNet 2.10.2012

[8] Đại Việt Sử ký Toàn thư, tr.269

[9] Tâm trạng của Trần Thái Tông thể hiện rất sâu sắc trong lời nói với Trần Thủ Độ và bá quan khi từ chối rời Yên Tử về kinh, được Đại Việt Sử ký ghi lại: “Trẫm còn trẻ tuổi, chưa cáng đảng nổi việc nặng nề, phụ hoàng đã vội lìa bỏ, sớm mất chỗ trông cậy, không dám ở ngôi vua mà làm nhục xã tắc”

[10] Trần Nhân Tông sinh 1258 lên ngôi vua năm 1278, Hai cuộc chiến tranh diễn ra năm 1285 và 1288. Tức là. khi nổ ra cuộc chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai, 1285, Trần Nhân Tông 27 tuổi. Trong lịch sử Việt Nam có những vị vua và người lãnh đạo xuất chúng khác bộc lộ đầy đủ tài năng ở độ tuổi 20.

[11] Trần Trọng Kim: Việt Nam Sử lược, tr,131, NXB Văn Học 2011

[12] ĐVSKTT, tr  317 NXB Thời Đại, 2011

Bùi Đức Lại

No related posts.

Để lại thảo luận


Các tin khác

  • Featured Thông báo

    Thông báo

    Thông báo   Trần Nhân Tông Academy xin trân trọng thông báo : Các thông tin về hoạt động của Tran Nhan Tong Academy được thông tin chính thức trên website TranNhanTong.net . Trần Nhân Tông  Academy  chỉ bảo đảm xác thực  các thông tin về hoạt động của mình đã được thông tin chính thức trên website TranNhanTong.net . Cám ơn quý vị và các bạn đã quan tâm. Trân trọng.   Trần Nhân Tông Academy .  

    Đọc thêm →
  • Những tác phẩm của Trần Nhân Tông VĂN THƯ NGOẠI GIAO TRẦN NHÂN TÔNG

    VĂN THƯ NGOẠI GIAO TRẦN NHÂN TÔNG

    Về văn thư ngoại giao, ta hiện có bốn nguồn chính. Đó là An Nam truyện của Nguyên sử 209, Biểu chương của An Nam chí lược 6, Thiên nam hành ký và phần Phụ lục của Trần Cương Trung thi tập. Nguyên sử còn giữ cho ta 8 đoạn phiến của 8 lá thư mà vua Trần Nhân Tông đã viết cho Hốt Tất Liệt và các thuộc hạ của y. Lá thư sớm nhất do Nguyên sử ghi [...]

    Đọc thêm →
  • Thiền phái Trúc Lâm Trần Nhân Tông xuất gia

    Trần Nhân Tông xuất gia

    Khi cuộc đấu tranh để bảo vệ hòa bình và gây dựng cuộc sống ấm no đang trên đà phát triển tốt đẹp thì vua Trần Nhân Tông đã giao lại quyền bính cho con mình là Trần Anh Tông từ tháng 3 năm Qúy Tỵ (1293). Đến tháng 7 năm Giáp Ngọ (1294), Thượng hoàng đi chơi Vũ Lâm và quyết định xuất gia ở đấy, như ĐVSKTT 6 tờ 2b2-4 đã ghi: “Bấy giờ Thượng hoàng đến Vũ [...]

    Đọc thêm →
  • Thiền phái Trúc Lâm Thiền phái Trúc Lâm

    Thiền phái Trúc Lâm

    Thiền phái Trúc Lâm lâu nay trong các sách lịch sử đều ghi nhận là do vua Trần Nhân Tông thành lập. Đến nửa cuối thế kỷ thứ 18 khi Tính Quảng và Hải Lượng tập hợp các tư liệu để cho ra đời tác phẩm Tam tổ thực lục, thì từ đó cho đến ngày nay, người ta thường cho rằng phái thiền này chỉ truyền được ba đời là chấm dứt. Nhất là sau ba vị này, người [...]

    Đọc thêm →
  • Những tác phẩm của Trần Nhân Tông Vị trí văn học của Trần Nhân Tông

    Vị trí văn học của Trần Nhân Tông

    Tiếng nói của dân tộc ta chắc chắn tồn tại từ lâu lắm rồi. Nhưng phải tới cuối thời kỳ triều đại Hùng Vương, tức vào khoảng những thế kỷ trước và sau tây lịch, ta mới có một số thông tin về tiếng nói này qua bài Việt ca và một số cấu trúc được tìm thấy trong Lục độ tập kinh và Tạp thí dụ kinh. ([1]) Đặc biệt hai bản kinh vừa nói có khả năng đã [...]

    Đọc thêm →
  • Những tác phẩm của Trần Nhân Tông Văn Trần Nhân Tông

    Văn Trần Nhân Tông

    HÀNH TRẠNG CỦA THƯỢNG SĨ TUỆ TRUNG  Thượng sĩ là con trai đầu (lòng) của Khâm Minh Từ Thiện Thái Vương và anh cả của Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu. Khi thái vương mất, Hoàng đế (Trần) Thái Tông cảm nghĩa, phong cho tước Hưng Ninh Vương. Thuở nhỏ, Thượng sĩ bẩm tính thanh cao, nổi tiếng thuần hậu, được giao trấn giữ quân dân ở lộ Hồng. Hai lần giặc Bắc xâm lược, có công với nước, [...]

    Đọc thêm →
  • Những tác phẩm của Trần Nhân Tông Phú Trần Nhân Tông

    Phú Trần Nhân Tông

    CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ HỘI THỨ NHẤT Mình ngồi thành thị; Nết dụng sơn lâm. Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tính; Nửa ngày rồi tự tại thân tâm. Tham ái nguồn dừng, Chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quý; Thị phi tiếng lặng, Được dầu nghe yến thốt oanh ngâm. Chơi nước biếc, ẩn non xanh, Nhân gian có nhiều người đắc ý; Biết đào hồng, hay liễu lục, Thiên hạ năng mấy chủ tri âm. Nguyệt bạc [...]

    Đọc thêm →
  • Những tác phẩm của Trần Nhân Tông Thơ Trần Nhân Tông

    Thơ Trần Nhân Tông

    1 TỨC SỰ Xong múa Giá chi thử áo xuân, Hôm nay huống gặp tiết thanh minh. Đầy mâm bánh cuốn như hồng ngọc Phong tục từ xưa của Việt Nam. 2   TIỄN SỨ BẮC LÝ TRỌNG TÂN TIÊU PHƯƠNG MAI   Thăm thẳm Linh Trì ấm tiệc đưa Người về khôn cách gió xuân ngừa. Nào hay sao sứ hai ngôi phúc, Sáng rọi trời Nam mây tối bưa. 3 TIỄN SỨ BẮC MA HỢP KIỀU NGUYÊN LÃNG [...]

    Đọc thêm →